NhoGiao.comNho Giáo
Nho giáo hôm nay: gia đình, nhà trường, giá trị và hạn chế

Giá trị và hạn chế của Nho giáo: đánh giá hai mặt cho người đọc hôm nay

Nho giáo để lại tinh thần tu thân, trọng học, gắn kết gia đình, nhưng cũng để lại thứ bậc cứng và bất bình đẳng. Bài trình bày hai mặt và cách tự đánh giá.

Distant view across a lotus pond toward an old temple of literature courtyard in Hanoi at dawn, silhouettes of two students walking, banyan trees, soft mist, muted gold

Theo cách đánh giá phổ biến của các nhà nghiên cứu, giá trị của Nho giáo nằm ở tinh thần tu dưỡng đạo đức, coi trọng học vấn, đề cao trách nhiệm trong gia đình và xã hội, đòi người cầm quyền phải có đức; còn hạn chế nằm ở trật tự thứ bậc cứng nhắc, coi nhẹ quyền cá nhân, bất bình đẳng giữa nam và nữ, xu hướng hướng về quá khứ và trọng lối học từ chương. Hai mặt này thường đến từ cùng một ý tưởng, được vận dụng theo những cách khác nhau.

Bài này trình bày từng mặt kèm căn cứ trong kinh điển và lịch sử, chỉ ra vì sao một ý có thể vừa là giá trị vừa là hạn chế, rồi gợi ý cách tự đánh giá hoặc viết một bài nghị luận về đề tài này mà không rơi vào thần tượng hoá hay phủ định sạch trơn.

Trước khi đánh giá: Nho giáo nào?

Chữ "Nho giáo" trong các cuộc tranh luận thường được dùng cho nhiều thứ khác nhau: tư tưởng của Khổng Tử và Mạnh Tử thời Tiên Tần; hệ thống Nho học được nhà Hán chọn làm hệ tư tưởng chính thống; Lý học đời Tống với các chú giải của Chu Hy; Nho giáo được nhà Lê, nhà Nguyễn ở Việt Nam dùng để tổ chức nhà nước và khoa cử; và lớp tập quán dân gian mang dáng dấp Nho mà người ta vẫn sống theo. Đánh giá chung cả năm thứ này bằng một câu là dễ sai.

Ví dụ, thuyết tam cương với yêu cầu phục tùng một chiều được nhiều nhà nghiên cứu coi là sản phẩm của Hán Nho nhiều hơn của Khổng Tử; còn chuyện học thuộc chú giải để đi thi là đặc điểm của thiết chế khoa cử hơn là của tư tưởng Luận ngữ. Ngược lại, có những hạn chế nằm ngay trong kinh điển, như việc phân biệt vai trò nam nữ hay thái độ đề cao đời xưa.

Một lý do nữa khiến việc đánh giá khó là Nho giáo ở Việt Nam không đứng một mình. Nó sống cạnh Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và lệ làng, thấm qua nhau đến mức nhiều nếp không còn tách được nguồn. Một nhận định kiểu "người Việt như thế vì Nho giáo" vì vậy thường cần được thêm chữ "một phần".

Vì vậy cách làm cẩn thận là mỗi khi nêu một giá trị hay hạn chế, chỉ rõ nó thuộc lớp nào: kinh điển, diễn giải đời sau, thiết chế nhà nước, hay tập quán. Cách làm này không nhằm bào chữa cho Nho giáo, mà để phê phán đúng chỗ và giữ đúng chỗ.

Những giá trị thường được ghi nhận

Đạo đức tu thân. Nho học đặt việc tự sửa mình lên hàng đầu. Luận ngữ ghi Tăng Tử mỗi ngày tự xét mình ba điều. Tinh thần tự soi xét, chịu trách nhiệm về hành vi của mình được nhiều người coi là phần giá trị lâu dài nhất.

Lòng nhân và sự thấu cảm. Chữ nhân trong Luận ngữ được giải thích bằng những câu như mình muốn đứng vững thì giúp người khác đứng vững, mình muốn thành đạt thì giúp người khác thành đạt (kỷ dục lập nhi lập nhân, thiên Ung dã). Đây là một nguyên tắc đạo đức có thể đối thoại với nhiều truyền thống khác.

Coi trọng học vấn và giáo dục. Truyền thống trọng học, mở trường, kính thầy giúp duy trì tầng lớp có chữ trong xã hội nông nghiệp và tạo động lực vươn lên cho nhiều gia đình nghèo.

Trách nhiệm gia đình và giữa các thế hệ. Chữ hiếu, tình anh em, sự chăm lo cho người già và trẻ nhỏ góp phần tạo ra mạng lưới gia đình gắn kết, chỗ dựa quan trọng khi xã hội chưa có hệ thống an sinh.

Người cầm quyền phải có đức. Mạnh Tử, thiên Tận tâm, có câu dân là quý nhất, xã tắc đứng sau, vua là nhẹ (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Tư tưởng coi dân là gốc, đòi người cầm quyền làm gương được nhiều nhà nho Việt dùng để can gián vua và phê phán chính sự hà khắc.

Những hạn chế thường được chỉ ra

Thứ bậc cứng nhắc, quyền cá nhân mờ nhạt. Xã hội được tổ chức theo quan hệ trên dưới; mỗi người được định nghĩa qua vai trò trong gia đình và nhà nước nhiều hơn qua quyền của chính mình. Khi bị nhà nước quân chủ nhấn mạnh, điều này dễ dẫn tới phục tùng một chiều.

Bất bình đẳng giữa nam và nữ. Các quy phạm như tam tòng, việc coi trọng con trai nối dõi đặt phụ nữ ở vị trí phụ thuộc. Mức độ khác nhau giữa kinh điển và thực tế từng thời, và danh mục về tam cương ngũ thường của trang trình bày kỹ hơn.

Hướng về quá khứ. Luận ngữ, thiên Thuật nhi, ghi Khổng Tử tự nhận mình thuật lại chứ không sáng tác, tin và yêu đời xưa (thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ). Lấy đời xưa làm chuẩn mực có thể nuôi dưỡng tâm lý ngại đổi mới, nhất là khi kết hợp với khoa cử dựa trên chú giải chuẩn.

Coi nhẹ kỹ thuật và kinh tế. Thứ bậc tứ dân và tâm lý trọng văn khiến khoa học thực nghiệm, nghề thủ công và buôn bán ít được coi trọng trong hệ giá trị chính thống. Nhiều nhà nghiên cứu coi đây là một lý do khiến các nước Đông Á chậm chân trước phương Tây ở thế kỷ 19, dù đây là vấn đề còn tranh luận và có nhiều nguyên nhân khác.

Đức trị lấn pháp trị. Thiên Vi chính nói dẫn dắt dân bằng mệnh lệnh, giữ dân bằng hình phạt thì dân tránh tội mà không biết hổ thẹn; dẫn dắt bằng đức, giữ bằng lễ thì dân biết hổ thẹn và tự sửa. Tư tưởng này đề cao gương mẫu, nhưng khi đẩy quá xa có thể làm nhẹ vai trò của luật lệ và thể chế, dễ dẫn tới quản lý dựa vào quan hệ và người quen.

Một ý tưởng, hai mặt

Bảng dưới cho thấy cùng một ý tưởng Nho học có thể sinh ra cả giá trị lẫn hạn chế, tuỳ cách vận dụng.

Ý tưởngKhi vận dụng tốtKhi vận dụng lệch
HiếuChăm sóc, kính trọng cha mẹ, gắn kết thế hệCha mẹ áp đặt con mọi chuyện, con không dám có ý riêng
Trọng họcĐộng lực vươn lên, xã hội quý tri thứcHọc vì thi, chuộng bằng cấp, áp lực lên trẻ
LễỨng xử tôn trọng, có chừng mựcHình thức, khách sáo, giữ thể diện hơn thực chất
Đức trịNgười lãnh đạo phải gương mẫuCoi nhẹ luật lệ, thể chế; trọng quan hệ thân quen
Trật tự trên dướiRõ vai trò, có trách nhiệm hai chiềuPhục tùng một chiều, người dưới không dám nói
Hướng về đời xưaGiữ gìn văn hoá, học từ kinh nghiệmNgại thay đổi, coi cái mới là đáng ngờ

Đọc bảng sẽ thấy cột giữa và cột phải không loại trừ nhau trong lịch sử: một xã hội có thể vừa hưởng lợi từ mặt này vừa chịu thiệt từ mặt kia của cùng một ý tưởng. Câu hỏi thực tế là làm sao giữ cột giữa mà hạn chế cột phải.

Các cuộc tranh luận lớn về vai trò của Nho giáo

Vai trò của Nho giáo trong lịch sử Đông Á là chủ đề tranh luận lâu dài. Đầu thế kỷ 20, nhà xã hội học Max Weber trong công trình về tôn giáo Trung Hoa cho rằng đạo đức Nho giáo không tạo ra loại động lực kinh tế đã thúc đẩy chủ nghĩa tư bản ở phương Tây. Cùng thời, nhiều trí thức Đông Á phê phán Nho giáo là lực cản của hiện đại hoá.

Nửa sau thế kỷ 20, khi nhiều nền kinh tế Đông Á tăng trưởng nhanh, một số học giả đặt lại vấn đề, cho rằng các giá trị như trọng học, kỷ luật, tiết kiệm, gắn kết gia đình có thể đã góp phần vào sự phát triển ấy. Những người phản biện thì nhắc rằng tăng trưởng còn đến từ chính sách, thị trường, bối cảnh quốc tế, và việc quy công cho văn hoá cũng dễ dãi như việc quy lỗi cho văn hoá.

Hiện trạng chung của các cuộc tranh luận này là không có kết luận đơn giản. Đa số nhà nghiên cứu đồng ý rằng Nho giáo là một trong nhiều yếu tố, ảnh hưởng của nó thay đổi theo thời và theo cách được vận dụng, và các khái niệm như "giá trị châu Á" cần được dùng thận trọng. Với người đọc phổ thông, điều đáng giữ lại là thái độ: không quy mọi thành công hay mọi trì trệ cho một học thuyết.

Viết bài nghị luận về giá trị và hạn chế của Nho giáo

Đề tài này thường xuất hiện trong bài tập Lịch sử, Ngữ văn, Triết học. Một khung làm bài giúp tránh hai lỗi phổ biến là ca ngợi một chiều và phủ nhận một chiều:

  1. Mở bài bằng định nghĩa ngắn: Nho giáo là gì, ra đời khi nào, vào Việt Nam ra sao, nêu thẳng luận điểm rằng nó có cả giá trị và hạn chế.
  2. Nói rõ phạm vi: bài đánh giá Nho giáo ở lớp nào, kinh điển, nhà nước quân chủ hay ảnh hưởng tới xã hội Việt hôm nay.
  3. Trình bày giá trị, mỗi ý kèm một dẫn chứng chắc chắn: câu kinh điển có ghi thiên, sự kiện lịch sử có năm rõ ràng, hoặc một biểu hiện cụ thể trong đời sống.
  4. Trình bày hạn chế theo cùng cách, tránh những câu khái quát như "Nho giáo làm Việt Nam lạc hậu" mà không phân tích.
  5. Chỉ ra những chỗ một ý tưởng có hai mặt, như bảng ở trên, để bài có chiều sâu.
  6. Kết bằng thái độ chọn lọc: giữ gì, điều chỉnh gì, và vì sao; tránh kết luận tuyệt đối.

Nếu dùng câu trích, hãy chắc câu đó có trong kinh điển và ghi đúng nguồn. Danh mục về lời Khổng Tử của trang có bài riêng giúp kiểm tra những câu hay bị gán nhầm.

Câu hỏi thường gặp

Nho giáo có giá trị gì với xã hội hôm nay?

Nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận các giá trị như tinh thần tu dưỡng đạo đức, coi trọng học vấn, trách nhiệm trong gia đình, chữ tín và đòi hỏi người lãnh đạo phải gương mẫu. Những giá trị này có thể dùng được hôm nay nếu tách khỏi thứ bậc cứng nhắc và kết hợp với bình đẳng, pháp quyền.

Hạn chế lớn nhất của Nho giáo là gì?

Không có câu trả lời duy nhất. Các hạn chế hay được nhắc là trật tự thứ bậc làm mờ quyền cá nhân, bất bình đẳng nam nữ, xu hướng hướng về quá khứ, coi nhẹ kỹ thuật và kinh tế, đề cao đức trị hơn pháp trị. Mức độ của từng hạn chế khác nhau tuỳ thời và cách vận dụng.

Câu "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" ở đâu?

Câu này ở sách Mạnh Tử, thiên Tận tâm, nghĩa là dân quý nhất, xã tắc đứng sau, vua là nhẹ. Đây là một trong những câu thể hiện rõ tư tưởng coi dân là gốc của Mạnh Tử, thường được dẫn khi bàn về mặt tiến bộ của Nho học.

Có nên nói Nho giáo làm Việt Nam chậm phát triển?

Đây là nhận định quá đơn giản. Nho giáo là một trong nhiều yếu tố của lịch sử, bên cạnh hoàn cảnh địa lý, chính trị, chiến tranh, kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cần phân tích cụ thể từng thời kỳ và từng cách vận dụng, thay vì quy hết cho một học thuyết.

Max Weber nói gì về Nho giáo?

Trong công trình về tôn giáo Trung Hoa đầu thế kỷ 20, Weber cho rằng đạo đức Nho giáo hướng về thích nghi với trật tự thế gian, không tạo ra động lực kinh tế kiểu đạo đức Tin Lành mà ông gắn với chủ nghĩa tư bản phương Tây. Nhận định này về sau bị tranh luận nhiều.

Viết bài nghị luận về Nho giáo cần tránh điều gì?

Nên tránh ca ngợi hay phủ nhận một chiều, tránh câu khái quát không có dẫn chứng, tránh trích những câu không chắc có trong kinh điển. Nên nói rõ phạm vi đánh giá, trình bày cả hai mặt có căn cứ và kết luận bằng thái độ chọn lọc thay vì phán quyết tuyệt đối.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183