NhoGiao.comNho Giáo
Danh nho Việt Nam

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi: từ chữ nhân của Khổng Mạnh đến "cốt ở yên dân"

Nhân nghĩa trong văn Nguyễn Trãi có gốc từ Khổng Tử, Mạnh Tử nhưng được dùng theo cách riêng. Bài đọc từng lớp nghĩa, những câu then chốt và chỗ hay hiểu sai.

Low angle view of an old brick rampart overgrown with moss in Thanh Hoa countryside, a lone figure in a conical hat walking away along the top at sunset

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là cách ông dùng hai khái niệm cốt lõi của Nho giáo, "nhân" và "nghĩa", để đặt mục đích của việc cầm quân và trị nước vào chỗ làm cho dân được yên; câu tiêu biểu là mở đầu Bình Ngô đại cáo: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Khái niệm có gốc từ Khổng Tử và nhất là Mạnh Tử, nhưng Nguyễn Trãi đặt nó vào hoàn cảnh một nước nhỏ chống ách đô hộ, nên mang sắc thái riêng.

Bài này không kể diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hay vụ án Lệ Chi Viên (sách sử đã viết đủ), cũng không phân tích thơ Nguyễn Trãi như văn chương. Trọng tâm là phần tư tưởng: nhân nghĩa trong kinh điển nghĩa là gì, Nguyễn Trãi dùng nó thế nào trong các văn bản chính, và những cách hiểu quá đà mà người đọc hôm nay nên tránh.

Nhân nghĩa trong kinh điển Nho gia trước Nguyễn Trãi

Trong Luận ngữ, "nhân" là khái niệm trung tâm, được Khổng Tử giải thích nhiều cách tuỳ người hỏi; một cách giải thích ngắn gọn hay được dẫn là "nhân giả ái nhân" (người nhân thì thương người, Luận ngữ – Nhan Uyên). "Nghĩa" là điều phải, điều nên làm theo lẽ, đối lập với "lợi" khi lợi chỉ vì mình. Khổng Tử chưa ghép hai chữ thành một cặp thường trực.

Mạnh Tử mới là người đẩy cặp "nhân nghĩa" lên thành khẩu hiệu chính trị. Mở đầu sách Mạnh Tử, khi vua Lương hỏi điều gì lợi cho nước mình, Mạnh Tử đáp vua chỉ nên nói nhân nghĩa, cần gì nói lợi. Mạnh Tử cũng là người nói "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" (dân là quý, xã tắc đứng sau, vua là nhẹ, Mạnh Tử – Tận tâm hạ), và cho rằng vua tàn bạo thì mất tư cách vua, đánh đổ kẻ ấy không phải là giết vua.

Như vậy trước Nguyễn Trãi, trong kinh điển đã có sẵn ba ý: nhân nghĩa là thước đo chính đáng của quyền lực; dân là gốc; và dùng binh chỉ chính đáng khi nhằm trừ bạo cứu dân ("điếu dân phạt tội", thương dân và đánh kẻ có tội). Nguyễn Trãi, một người đỗ Thái học sinh năm 1400 và học kỹ kinh điển, sử dụng chính những ý ấy, nhưng đặt vào một khung khác: quan hệ giữa hai nước.

Ba lớp nghĩa của nhân nghĩa trong văn Nguyễn Trãi

Lớp thứ nhất: nhân nghĩa là yên dân. Câu mở Bình Ngô đại cáo (1428), theo bản dịch quen thuộc: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo." Mục đích của cuộc chiến được định nghĩa bằng sự yên ổn của dân, không bằng vinh quang của triều đại hay vua. Đây là tinh thần Mạnh Tử, nói bằng ngôn ngữ văn chính luận.

Lớp thứ hai: nhân nghĩa gắn với chính danh của một quốc gia. Ngay sau câu mở, bài cáo khẳng định nước Đại Việt vốn là nước văn hiến, có núi sông, phong tục, triều đại riêng sánh ngang phương Bắc. Nhân nghĩa vì thế không chỉ là đạo đức của người cầm quyền mà còn là lẽ phải của một nước có chủ quyền chống lại kẻ xâm lược. Nhiều nhà nghiên cứu coi đây là chỗ Nguyễn Trãi mở rộng khái niệm so với kinh điển.

Lớp thứ ba: nhân nghĩa trong cách đối xử với kẻ thua. Bình Ngô đại cáo kể việc cấp thuyền, ngựa cho quân Minh thua trận rút về nước thay vì giết hết. Hành động ấy được trình bày như biểu hiện của lòng hiếu sinh, của "chí nhân". Với Nho gia, đánh thắng chưa đủ; cách kết thúc chiến tranh cũng phải hợp lẽ nhân.

"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn": văn bản then chốt đọc thế nào

Trong Bình Ngô đại cáo có cặp câu thường được trích: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo." Đọc theo khung Nho học, cặp câu này đối "nghĩa" với "hung tàn", "nhân" với "cường bạo". Thắng lợi được giải thích như chiến thắng của cái phải trước cái trái, của lòng người trước sức mạnh trần trụi. Đó là cách Nho gia hợp thức hoá một kết cục chính trị bằng đạo đức.

Cần đọc bài cáo đúng thể loại. Đây là văn bản nhà nước tuyên cáo chiến thắng, viết theo lối biền ngẫu, dùng nhiều điển cố, có mục đích chính trị rõ ràng: khẳng định chính danh của triều mới và trấn an lòng người. Vì thế, "nhân nghĩa" trong bài vừa là niềm tin tư tưởng của tác giả, vừa là ngôn ngữ chính trị của thời đại. Hai điều này không loại trừ nhau, nhưng người đọc tỉnh táo nên thấy cả hai.

Các bản dịch hiện hành có khác nhau ở câu chữ. Nếu cần trích trong bài văn, bài nghiên cứu, bạn nên dùng một bản dịch phổ biến trong sách giáo khoa hoặc tuyển tập có ghi người dịch, và tránh tự "dịch lại cho hay" rồi đặt trong ngoặc kép như lời Nguyễn Trãi.

Nhân nghĩa trong các văn bản khác của Nguyễn Trãi

Bình Ngô đại cáo nổi tiếng nhất, nhưng tư tưởng nhân nghĩa trải ra trong nhiều tác phẩm. Đọc rộng hơn giúp tránh hiểu nhân nghĩa chỉ như một câu khẩu hiệu:

  • Quân trung từ mệnh tập: tập thư từ, văn bản soạn trong thời gian kháng chiến, nhiều thư gửi tướng lĩnh nhà Minh. Ở đây lý lẽ nhân nghĩa được dùng như vũ khí thuyết phục: chỉ ra cái phi nghĩa của đối phương, khuyên giảng hoà, mở lối rút lui. Giới nghiên cứu thường gắn tập văn này với ý "công tâm", đánh vào lòng người.
  • Thơ chữ Hán và thơ Nôm: nhiều bài nói về nỗi lo cho dân, về chí của người quân tử muốn giúp đời, về cảnh nhàn khi lui về Côn Sơn. Phần phân tích nghệ thuật thuộc văn học; ở góc tư tưởng, chúng cho thấy nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi còn là đạo đức cá nhân, không chỉ đạo trị nước.
  • Dư địa chí: sách địa lý soạn đời Lê Thái Tông, ghi núi sông, sản vật, phong tục các vùng. Hiểu đất nước để trị dân cho đúng cũng là một biểu hiện của tinh thần "yên dân".
  • Các bài chiếu, biểu soạn thay vua: nhiều văn bản hành chính đầu triều Lê do ông chấp bút, trong đó có những lời răn quan lại thương dân, dè dặt việc dùng hình phạt. Khi trích, cần xác định đúng văn bản nào là của ông, vì sự phân định tác giả ở các văn bản triều đình không phải lúc nào cũng rõ.

Đối chiếu: nhân nghĩa ở Mạnh Tử và ở Nguyễn Trãi

Đặt hai bên cạnh nhau giúp thấy Nguyễn Trãi kế thừa gì và đặt nặng điều gì. Bảng dưới là cách đối chiếu thường gặp trong sách nghiên cứu, ở mức khái quát:

Khía cạnhMạnh TửNguyễn Trãi
Đối tượng nói tớiVua chư hầu trong một thiên hạ chungQuân xâm lược và triều đại mới của một nước riêng
Mục đích của nhân nghĩaLàm vương đạo, thu phục thiên hạYên dân, giữ chủ quyền, dựng lại trật tự
Quan hệ với dânDân là quý, vua tàn bạo thì mất ngôiDân là mục đích của việc dùng binh
Quan hệ với chiến tranhChỉ đánh để cứu dân, trừ kẻ bạoKháng chiến là việc nghĩa, kết thúc bằng lòng hiếu sinh
Điểm nhấn riêngLý thuyết về tính thiện, vương đạoÝ thức quốc gia văn hiến ngang hàng phương Bắc

Bảng chỉ là khung tóm tắt. Mạnh Tử và Nguyễn Trãi sống cách nhau gần hai nghìn năm, viết cho người đọc khác hẳn nhau; đối chiếu như vậy để thấy sự kế thừa và sáng tạo, không để xếp ai cao hơn ai.

Những cách hiểu quá đà nên tránh

Nguyễn Trãi không phát minh ra nhân nghĩa. Khái niệm có sẵn trong kinh điển Nho gia hàng nghìn năm. Điều đáng nói là cách ông vận dụng vào hoàn cảnh Đại Việt, chứ không phải ông "sáng tạo ra tư tưởng nhân nghĩa" như một số bài viết phổ thông viết.

Nhân nghĩa không đồng nghĩa với nhân đạo hiện đại. Nhân nghĩa Nho gia nằm trong khung đẳng cấp vua – quan – dân, đề cao bổn phận, không phải khái niệm quyền con người của thời nay. So sánh được, nhưng gán thẳng là làm mờ bối cảnh lịch sử.

Không nên tách nhân nghĩa khỏi chính trị đương thời. Bình Ngô đại cáo là văn kiện của một triều đại vừa giành chính quyền. Đọc nó như một bài giảng đạo đức thuần tuý là bỏ qua tầng nghĩa chính trị mà chính tác giả ý thức rất rõ.

Không dùng số phận cá nhân để "chứng minh" tư tưởng. Vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 là bi kịch lịch sử, nhưng dùng nó để kết luận "nhân nghĩa thất bại" hay "Nho giáo bạc bẽo" là nhảy từ sự kiện sang phán xét. Phần vụ án, bạn nên đọc ở sách sử chuyên về thời Lê sơ.

Đọc Nguyễn Trãi để hiểu Nho giáo Việt Nam

Nguyễn Trãi là một ví dụ rõ về cách nhà nho Việt dùng kinh điển. Ông không viết sách chú giải Tứ thư như Chu Văn An, cũng không biên soạn bách khoa như Lê Quý Đôn về sau. Ông dùng Nho học như một ngôn ngữ để lập luận về những việc lớn của đất nước: vì sao đánh, đánh để làm gì, thắng rồi đối xử ra sao, trị dân thế nào. Đó là Nho học ở trạng thái hành động.

Với học sinh, cách tiếp cận dễ nhất là đi từ một câu: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Hỏi các em "yên dân" nghĩa là gì trong bối cảnh đầu thế kỷ 15, rồi lần ngược về Mạnh Tử để thấy câu ấy từ đâu tới, rồi xem bài cáo dùng nó để nói gì tiếp. Một câu, ba lớp đọc, đủ cho một tiết học có chiều sâu.

Với người đọc nghiên cứu, nên tìm các công trình về Nguyễn Trãi của giới Hán Nôm và sử học, đọc bản dịch có kèm nguyên văn chữ Hán và chú thích. Văn Nguyễn Trãi dày điển cố; hiểu điển cố là hiểu ông đang đối thoại với kinh điển nào. Không có bước ấy, "nhân nghĩa" dễ bị đọc phẳng thành một khẩu hiệu chung chung.

Câu hỏi thường gặp

Câu "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" nguyên văn chữ Hán là gì?

Câu mở Bình Ngô đại cáo thường được phiên âm là "Cái văn nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân". Câu tiếp theo nói về quân điếu phạt lo trừ bạo trước. Khi trích phần phiên âm, bạn nên đối chiếu với một bản in có nguyên văn và chú thích, vì các bài đăng trên mạng hay chép lệch.

Ai là người dịch Bình Ngô đại cáo sang tiếng Việt quen thuộc nhất?

Bản dịch được dùng rộng rãi trong nhà trường thường ghi của Ngô Tất Tố. Ngoài ra còn nhiều bản dịch khác của các nhà Hán Nôm. Nếu viết bài nghiêm túc, bạn nên ghi rõ đang dùng bản dịch nào để người đọc đối chiếu được câu chữ.

Nguyễn Trãi có phải người theo Tống Nho không?

Ông học Nho trong thời Tứ thư theo chú giải Chu Hy đã phổ biến, nên chịu ảnh hưởng của khung học ấy. Nhưng văn chương của ông gần với Mạnh Tử và với Nho học ứng dụng vào chính trị hơn là với phần lý học trừu tượng của Tống Nho. Xếp ông cứng vào một trường phái là không cần thiết.

Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi có điểm gì gần với Phật giáo không?

Một số nhà nghiên cứu ghi nhận trong thơ ông có ảnh hưởng của tâm thế Thiền và Lão Trang lúc nhàn ẩn, vì thời Trần – Lê sơ ba dòng tư tưởng còn đan xen. Nhưng khái niệm nhân nghĩa trong các văn bản chính luận của ông dùng ngôn ngữ và lập luận Nho gia rõ rệt.

Đọc Nguyễn Trãi nên bắt đầu từ đâu?

Bạn có thể bắt đầu bằng Bình Ngô đại cáo trong một bản có chú thích, rồi đọc một số thư trong Quân trung từ mệnh tập để thấy lập luận nhân nghĩa trong đối thoại thực tế. Sau đó mới đến thơ. Các bộ tuyển tập Nguyễn Trãi do giới Hán Nôm biên soạn là nguồn đáng tin hơn bài trích lẻ trên mạng.

Có nên dùng tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi để dạy con?

Có thể, ở mức gần gũi: thương người, làm điều phải, không ức hiếp kẻ yếu, thắng rồi không hả hê với người thua. Đó là những ý trẻ hiểu được. Phần chính trị và chiến tranh trong bài cáo nên để khi con lớn hơn, học trong giờ lịch sử, ngữ văn với đủ bối cảnh.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183