NhoGiao.comNho Giáo
Danh nho Việt Nam

Sách của Lê Quý Đôn: Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục viết gì

Lê Quý Đôn để lại nhiều bộ sách lớn về kinh điển, sử, địa chí và tri thức tổng hợp. Bài giới thiệu từng bộ, cách ông làm sách và nên bắt đầu đọc từ đâu.

Top-down view of a low wooden reading table with stacks of old stitched books tied with string, a brush rest and a clay teacup, pages turned away, soft window light

Lê Quý Đôn (1726–1784) là nhà nho để lại khối trước tác lớn bậc nhất thời trung đại Việt Nam, gồm sách giảng kinh điển (Thư kinh diễn nghĩa), sách sử (Đại Việt thông sử), sách ghi chép địa phương (Phủ biên tạp lục), sách tri thức tổng hợp xếp theo loại (Vân đài loại ngữ) và sách tạp ghi những điều thấy nghe (Kiến văn tiểu lục), cùng các tuyển tập thơ văn. Hậu thế gọi ông là nhà bác học, vì phạm vi sách của ông trải từ triết lý Nho gia đến cây cỏ, khoáng sản, thuế khoá.

Với người đọc hôm nay, khó khăn không phải thiếu sách mà là không biết bắt đầu từ đâu. Bài này giới thiệu từng bộ ở mức "sách viết về gì, viết theo cách nào, đọc để làm gì", rồi gợi ý một lộ trình đọc qua bản dịch. Phần giai thoại về tài trí của ông, và những truyện gắn ông với thuật số, nằm ngoài phạm vi bài.

Lê Quý Đôn trong vài dòng: học vấn trước, quan chức sau

Lê Quý Đôn quê ở Diên Hà, trấn Sơn Nam (vùng Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp năm 2025), con của tiến sĩ Lê Trọng Thứ. Ông đỗ đầu thi Hương năm 1743, rồi năm 1752 đỗ đầu thi Hội và đỗ bảng nhãn ở thi Đình; khoa ấy không lấy trạng nguyên, nên bảng nhãn là thứ bậc cao nhất. Từ đó ông làm quan dưới triều Lê – Trịnh, từng đi sứ nhà Thanh và giữ nhiều chức về văn học, sử học, hành chính.

Điều làm nên tên tuổi ông không phải quan chức mà là thói quen đọc, chép, khảo của một người suốt đời làm việc với sách. Đi sứ, ông ghi chép những gì thấy nghe ở Trung Hoa và trao đổi với sứ thần các nước; làm quan ở vùng mới, ông lập hồ sơ về đất đai, dân cư, sản vật; về kinh, ông soạn sử, biên tập thơ văn. Sách của ông vì thế gắn chặt với công việc, không phải sách viết lúc nhàn.

Ở góc Nho học, ông tiêu biểu cho xu hướng coi trọng thực học trong Nho giáo thế kỷ 18: học kinh điển nhưng không dừng ở chữ nghĩa, mà mở rộng sang khảo cứu sự vật, sử liệu, địa lý. Ông cũng là người có ý thức rõ về việc gom góp, giữ gìn sách vở của người Việt, vốn đã mất mát rất nhiều qua các thời kỳ.

Các bộ sách chính và nội dung từng bộ

Danh mục trước tác gán cho Lê Quý Đôn khá dài, một số bộ còn tranh luận về văn bản. Bảng dưới chỉ nêu các bộ được nhắc nhiều và đã có bản dịch phổ biến:

Tên sáchThuộc loạiNội dung chính
Thư kinh diễn nghĩaGiảng kinh điểnGiảng giải Kinh Thư, một trong Ngũ kinh, theo cách hiểu riêng có đối chiếu chú giải đời trước
Đại Việt thông sửSửSử triều Lê sơ viết theo thể kỷ truyện, có phần chí và truyện nhân vật; bản còn lại không đủ
Phủ biên tạp lụcGhi chép địa phươngVề xứ Thuận Hoá, Quảng Nam: địa lý, dân cư, thuế khoá, sản vật, đường sá, phong tục
Vân đài loại ngữLoại thư (tri thức tổng hợp)Xếp tri thức theo các loại: trời đất, địa lý, điển chế, văn chương, chữ viết, sách vở, sản vật
Kiến văn tiểu lụcTạp ghiNhững điều thấy nghe về điển chế, nhân vật, thơ văn, Phật giáo ở nước ta, vùng biên
Bắc sứ thông lụcGhi chép đi sứHành trình và giao thiệp trong chuyến đi sứ nhà Thanh
Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt văn hảiTuyển tậpGom thơ văn của người Việt các đời để khỏi thất lạc

Thứ tự trong bảng không theo năm soạn. Năm hoàn thành từng bộ và số quyển được các nhà nghiên cứu ghi khác nhau ở vài chỗ; khi cần trích, bạn nên dựa vào lời giới thiệu trong bản dịch đang dùng.

Cách Lê Quý Đôn làm sách

Chép kỹ, ghi rõ nguồn. Trong các bộ khảo cứu, ông hay dẫn sách đời trước rồi mới nêu ý mình, có khi chỉ ra chỗ các sách ghi lệch nhau. Lối làm này gần với tinh thần khảo chứng đang thịnh ở Trung Hoa cùng thời: đi từ văn bản, so sánh, rồi mới kết luận.

Xếp tri thức theo loại. Vân đài loại ngữ theo mô hình loại thư, chia mọi thứ cần biết thành từng mục để tra cứu. Đây là cách tổ chức tri thức có từ lâu trong văn hoá chữ Hán; điểm đáng chú ý là ông đưa vào đó nhiều điều thấy ở nước mình.

Ghi điều tận mắt thấy. Phủ biên tạp lục được soạn khi ông làm quan ở Thuận Hoá sau khi quân Trịnh vào Phú Xuân. Ông dùng sổ sách thuế, hỏi người địa phương, đi lại các nơi, nên sách có nhiều số liệu và chi tiết đời sống mà sử chính thống thường bỏ qua.

Coi việc giữ sách là trách nhiệm. Việc soạn Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt văn hải xuất phát từ nỗi lo thơ văn người Việt bị mất. Đây là mặt "người giữ kho" của nhà nho, ít được nói tới bằng mặt "nhà bác học".

Lê Quý Đôn và Nho học: thực học trong khung kinh điển

Dù viết về đủ thứ, Lê Quý Đôn vẫn đứng trong khung Nho. Ông học và giảng Ngũ kinh, ông bàn lý khí theo cách của Tống Nho, ông soạn sử theo quan niệm chính thống. Cái mới ở ông là liều lượng: phần khảo cứu sự vật, địa lý, kinh tế chiếm chỗ lớn hơn hẳn so với các nhà nho trước, vốn chủ yếu viết thơ văn, chiếu biểu.

Nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là khuynh hướng thực học, tức học để dùng được vào việc trị nước, quản lý dân, hiểu đất đai. Ở góc này, Lê Quý Đôn gần với các nhà nho cùng thời như Ngô Thì Sĩ, và mở đường cho những bộ khảo cứu lớn đầu thế kỷ 19 như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Đặt ông vào dòng chảy ấy giúp tránh hình ảnh "thiên tài đơn độc" mà truyện kể hay vẽ ra.

Ông cũng có những giới hạn của thời mình. Một số phần trong các bộ tri thức tổng hợp chứa quan niệm tự nhiên của thế kỷ 18 không còn đúng theo khoa học hôm nay, và cách ông đánh giá các nhân vật, triều đại theo chuẩn chính thống Lê – Trịnh. Đọc ông, bạn nên coi đó là tư liệu về cách một nhà nho lớn hiểu thế giới, không phải sách giáo khoa về tự nhiên hay lịch sử.

Lộ trình đọc Lê Quý Đôn cho người mới

Hầu hết sách của ông đã có bản dịch tiếng Việt do giới Hán Nôm thực hiện, in nhiều lần. Một lộ trình dễ theo cho người không đọc chữ Hán:

  1. Bắt đầu bằng Kiến văn tiểu lục. Sách gồm nhiều mục ngắn, đọc từng đoạn được, cho bạn cảm giác về cách ông quan sát và ghi chép, từ điển chế triều đình đến chuyện thơ văn.
  2. Tiếp theo là Phủ biên tạp lục. Nếu bạn quan tâm đến miền Trung, đến lịch sử Đàng Trong, đây là tư liệu quý, đọc như một hồ sơ địa phương thế kỷ 18.
  3. Sau đó đến Vân đài loại ngữ. Đọc chọn mục theo mối quan tâm (chữ viết, sách vở, sản vật…), không cần đọc liền. Ghi lại những chỗ quan niệm thời ấy khác hiểu biết hiện đại.
  4. Phần kinh điển và sử để sau. Thư kinh diễn nghĩa đòi hỏi bạn biết Kinh Thư; Đại Việt thông sử cần nền về sử Lê sơ. Đọc sau khi đã quen giọng văn của ông.
  5. Luôn đọc lời giới thiệu của người dịch. Phần này cho biết văn bản dựa vào bản chép nào, thiếu chỗ nào, năm soạn ước định ra sao, những điều mà bài phổ thông hay bỏ qua.

Một mẹo nhỏ: khi gặp một "câu nói của Lê Quý Đôn" trên mạng, hãy hỏi nó nằm ở sách nào, mục nào. Rất nhiều câu lưu truyền không có xuất xứ, hoặc là lời người khác viết về ông.

Những hiểu lầm hay gặp về Lê Quý Đôn

"Nhà bác học" không có nghĩa điều gì ông viết cũng đúng. Danh xưng ấy ghi nhận độ rộng của học vấn, không phải sự chính xác tuyệt đối. Nhiều ghi chép của ông về tự nhiên, về nguồn gốc sự vật phản ánh hiểu biết thế kỷ 18; dùng chúng làm bằng chứng khoa học hôm nay là đọc sai mục đích của sách.

Không phải sách nào mang tên ông cũng do ông viết trọn. Danh mục trước tác của Lê Quý Đôn qua các thời được chép thêm bớt; có bộ là do ông biên tập, tuyển chọn chứ không phải tự viết, có bộ còn tranh luận về tác giả. Khi nói "Lê Quý Đôn viết", nên nói theo kết luận của người dịch, người khảo cứu văn bản.

Giai thoại thần đồng không phải tiểu sử. Những truyện về trí nhớ, tài ứng đối từ nhỏ của ông lan truyền rộng, nhưng phần lớn không có trong chính sử. Có thể kể cho trẻ nghe như truyện, miễn là nói rõ đó là truyện kể và đừng biến chúng thành bài học "phải thông minh bẩm sinh mới giỏi".

Ông không đứng ngoài thời cuộc. Lê Quý Đôn là quan chức của chính quyền Lê – Trịnh, viết theo quan điểm chính thống của chính quyền ấy, kể cả khi ghi chép về Đàng Trong. Biết điều này giúp đọc Phủ biên tạp lục tỉnh táo hơn: đây là cái nhìn của người từ phía Bắc vào, với mục đích quản lý.

Vì sao nên đọc Lê Quý Đôn hôm nay

Lý do đầu tiên là tư liệu. Muốn biết thế kỷ 18 người Việt trồng gì, nộp thuế thế nào, đi đường nào từ Bắc vào Nam, học những sách gì, bạn khó tìm được nguồn phong phú hơn các bộ sách của ông. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, địa lý, ngôn ngữ vẫn dùng chúng như nguồn gốc.

Lý do thứ hai là phương pháp. Thói quen chép nguồn, đối chiếu, ghi điều tận mắt thấy, phân loại tri thức là những kỹ năng mà học sinh, sinh viên hôm nay vẫn cần. Kể cho con về Lê Quý Đôn qua cách ông làm việc sẽ có ích hơn kể những giai thoại thần đồng.

Lý do thứ ba là hiểu Nho học Việt Nam đúng chiều rộng. Người ta hay hình dung nhà nho chỉ biết văn chương, thi cử. Khối sách của Lê Quý Đôn cho thấy một nhà nho có thể là người khảo cứu, biên tập, quản lý, và chính truyền thống Nho đã nuôi dưỡng loại học vấn ấy.

Câu hỏi thường gặp

Lê Quý Đôn có đỗ trạng nguyên không?

Không. Ông đỗ đầu thi Hương và thi Hội, rồi đỗ bảng nhãn ở thi Đình năm 1752. Khoa ấy không lấy trạng nguyên nên bảng nhãn là người đứng đầu. Vì thế ông thường được nhắc là người đỗ đầu cả ba kỳ theo nghĩa thứ bậc cao nhất của từng kỳ.

Vân đài loại ngữ có phải bách khoa toàn thư không?

Có thể so sánh như vậy để dễ hình dung, vì sách xếp tri thức theo loại để tra cứu. Nhưng đây là loại thư theo truyền thống chữ Hán, mang quan niệm tự nhiên và xã hội của thế kỷ 18, không phải bách khoa theo nghĩa hiện đại có kiểm chứng khoa học.

Phủ biên tạp lục được viết trong hoàn cảnh nào?

Sách được soạn khi ông làm quan ở Thuận Hoá, sau khi quân Trịnh chiếm Phú Xuân trong thời Tây Sơn nổi dậy. Ông dựa trên sổ sách địa phương và những gì hỏi han, quan sát được, nên sách có nhiều chi tiết kinh tế, địa lý quý về xứ Đàng Trong.

Lê Quý Đôn có liên quan đến thuật số, Kinh Dịch không?

Ông có viết về Kinh Dịch như một bộ kinh trong Ngũ kinh, và đời sau có nhiều giai thoại gắn ông với thuật số. Phần Kinh Dịch như lịch sử tư tưởng nằm ở các trang chuyên về Kinh Dịch, âm dương ngũ hành; còn giai thoại thì nên đọc như truyện kể, không phải sử.

Đọc bản dịch nào của sách Lê Quý Đôn?

Phần lớn sách của ông được dịch và xuất bản bởi các nhà Hán Nôm, nhiều bộ đã tái bản. Bạn nên chọn bản có lời giới thiệu văn bản học, có chú thích, và ghi rõ người dịch. Tránh các bản trích đoạn không ghi nguồn đăng lại trên mạng.

Lê Quý Đôn quê ở đâu theo địa giới hiện nay?

Quê ông ở vùng Diên Hà xưa, thuộc tỉnh Thái Bình trước đây. Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Thái Bình hợp nhất vào tỉnh Hưng Yên. Khi viết, bạn nên ghi tên cũ kèm tên tỉnh hiện nay để người đọc hai thế hệ đều hiểu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183