NhoGiao.comNho Giáo
Danh nho Việt Nam

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp và "Bàn luận về phép học": nhà nho đề xuất đổi cách học

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp từ chối làm quan nhiều lần, rồi giúp Quang Trung lo việc học. Bài đọc kỹ bài tấu về phép học, Sùng chính viện và ý nghĩa với ngày nay.

Wide view of a forested mountain ridge above rice fields in Ha Tinh in early morning mist, a thatched house at the forest edge, a tiny figure walking a dirt path

Nguyễn Thiếp (1723–1804), người La Sơn, Hà Tĩnh, được gọi là La Sơn phu tử, là nhà nho ở ẩn đã nhiều lần từ chối lời mời của vua Quang Trung trước khi nhận giúp việc giáo dục; năm 1791 ông dâng bài tấu bàn về phép học và được giao đứng đầu Sùng chính viện, cơ quan lo dịch sách kinh điển sang chữ Nôm. Một đoạn của bài tấu được đưa vào sách Ngữ văn với tên "Bàn luận về phép học".

Bài này đọc Nguyễn Thiếp từ góc Nho học: ông phê phán lối học nào, đề xuất cách học ra sao, việc dịch kinh sách ra chữ Nôm có ý nghĩa gì, và những điều ông nói còn giá trị đến đâu. Phần quan hệ chính trị giữa ông với nhà Tây Sơn chỉ được nhắc đủ để hiểu bối cảnh.

Một nhà nho chọn ở ẩn

Nguyễn Thiếp đỗ thi Hương năm 1743, làm quan vài năm ở cấp huyện dưới triều Lê – Trịnh rồi xin về, sống ẩn ở vùng núi Thiên Nhẫn, dạy học. Ông có hiệu Lạp Phong cư sĩ, sống giản dị, nổi tiếng hiểu sâu kinh điển và lý học Tống Nho. Học trò và người đương thời kính trọng gọi ông là "phu tử", danh xưng vốn dùng cho bậc thầy.

Khi Nguyễn Huệ ra Bắc, ông được mời nhiều lần. Sách cũ chép ông từ chối mấy lượt, viện cớ tuổi già, chỉ sau nhiều lần thư từ mới gặp và về sau nhận giúp. Việc từ chối rồi nhận lời được đọc theo hai cách: hoặc là sự thận trọng của một nhà nho trước một triều đại mới, hoặc là thái độ chọn giúp việc học, việc dân mà không màng chức tước. Hai cách hiểu không loại trừ nhau.

Điều quan trọng với chủ đề Nho học là ông nhận phần việc gì. Ông không nhận chức lớn trong triều mà nhận lo việc học: soạn tấu về giáo dục, đứng đầu cơ quan dịch sách. Với một nhà nho, giáo dục là phần việc gốc, vì Nho gia tin rằng trị nước bắt đầu từ việc dạy người.

Bài tấu năm 1791 nói những gì

Ba việc lớn được nêu. Theo các tài liệu phổ biến, bài tấu của Nguyễn Thiếp bàn ba điều: đức của vua (quân đức), lòng dân (dân tâm) và phép học (học pháp). Đoạn trong sách giáo khoa là phần bàn về phép học, cũng là phần được nhắc nhiều nhất.

Mục đích của học. Ông dẫn ý sách Lễ ký: ngọc không mài không thành đồ dùng, người không học không biết rõ đạo. Học là để biết đạo làm người, không phải để cầu danh lợi. Đây là quan niệm kinh điển của Nho gia, ông nhắc lại để làm nền cho phần phê phán.

Phê phán lối học đương thời. Ông chỉ ra lối học chuộng hình thức, chỉ học thuộc để thi, cầu danh lợi mà không biết đến tam cương ngũ thường như đạo làm người, khiến người có chữ mà thiếu thực tài. Ông cho rằng lối học ấy là một nguyên nhân của cảnh nước mất nhà tan trước đó.

Đề xuất cách học. Ông đề nghị mở rộng trường học tới các phủ, huyện, trấn; cho học trò được chọn thầy; học theo thứ tự từ thấp đến cao, bắt đầu từ Tiểu học rồi đến Tứ thư, Ngũ kinh, chư sử; học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều đã học mà làm.

Kết quả mong đợi. Theo bản dịch quen thuộc, ông kết luận rằng đạo học thành thì người tốt nhiều, người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị. Đó là chuỗi lập luận rất Nho: sửa người trước, sửa nước sau.

Vì sao Nguyễn Thiếp đặt sách Tiểu học lên đầu

Trong lộ trình học Nguyễn Thiếp đề xuất, Tiểu học đứng trước Tứ thư. Đây là bộ sách do Chu Hy và học trò biên soạn đời Tống, dành cho người mới học, gom những lời dạy và gương xưa về cách sống hằng ngày: phép tắc trong nhà, cách thưa gửi với cha mẹ, thầy, người lớn, cách giữ mình. Chu Hy từng giải thích rằng thời xưa trẻ nhỏ vào tiểu học thì tập việc quét dọn, thưa đáp, đi đứng tiến lui; lớn lên vào đại học mới học đạo lý sâu.

Đặt Tiểu học lên đầu nghĩa là đặt nếp sống trước lý thuyết. Theo cách nghĩ ấy, một người chưa biết kính người trên, chưa giữ được lời nói việc làm hằng ngày thì đọc Đại học, Trung dung cũng chỉ là học chữ. Đề xuất này đúng với quan điểm Nho học chính thống từ thời Chu Hy, và cũng hợp với kinh nghiệm của một người thầy đã dạy học nhiều năm ở làng như Nguyễn Thiếp.

Hôm nay, nội dung cụ thể của Tiểu học mang nhiều lễ tiết của xã hội cũ, không thể dạy nguyên. Nhưng nguyên tắc "nếp sống trước, kiến thức sau" vẫn gợi suy nghĩ cho cha mẹ và nhà trường: những thói quen nhỏ như chào hỏi, giữ lời, gọn gàng có khi là nền móng mà kiến thức nào cũng cần dựa vào.

"Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm"

Trong các đề xuất của Nguyễn Thiếp, câu về cách học này được trích nhiều nhất vì nó còn nguyên giá trị. Câu có hai vế. Vế đầu, học rộng rồi tóm cho gọn, là chuyện phương pháp: phải đọc nhiều để có nền, nhưng rồi phải tự rút ra cái cốt, không ôm đồm. Vế sau, theo điều học mà làm, là chuyện mục đích: học xong phải đem ra thực hành, học mà không làm thì như chưa học.

Ý này không mới trong Nho học. Luận ngữ đã có những lời Khổng Tử chê người học nhiều mà không làm được việc, và Trung dung có chuỗi "học rộng, hỏi kỹ, nghĩ cẩn thận, phân biệt rõ, làm hết lòng" mà các nhà nho thuộc lòng. Đóng góp của Nguyễn Thiếp là đặt những nguyên tắc ấy vào một bản đề xuất cụ thể cho cả một hệ thống trường học, trong lúc đất nước vừa qua chiến tranh.

Với học sinh, đây là đoạn văn nghị luận mẫu mực: luận điểm rõ, dẫn kinh điển làm căn cứ, phê phán có địa chỉ, đề xuất có trình tự. Khi học bài trong sách Ngữ văn, các em có thể tập tìm ba lớp này rồi đối chiếu với cách mình đang học: mình học để thi hay để làm? Mình có tóm lược được điều đã học không?

Sùng chính viện và việc dịch kinh sách sang chữ Nôm

Sau bài tấu, Quang Trung lập Sùng chính viện và giao Nguyễn Thiếp đứng đầu. Cơ quan này được nhắc đến chủ yếu qua việc dịch sách. Một số điểm cần biết:

  • Mục đích: đưa kinh sách Nho vốn viết bằng chữ Hán sang chữ Nôm, thứ chữ ghi tiếng Việt, để việc học bớt lệ thuộc vào chữ Hán và gần với tiếng nói của người học.
  • Những sách được nhắc: các tài liệu thường kể việc dịch sách Tiểu học, một số kinh trong Tứ thư, Ngũ kinh. Danh mục chính xác và mức hoàn thành có chỗ không thống nhất giữa các nguồn, nên khi viết bạn nên dùng chữ "một số".
  • Chủ trương dùng chữ Nôm của Tây Sơn: thời Quang Trung, chữ Nôm được dùng trong một số văn bản hành chính và thi cử. Việc dịch kinh sách là một phần của chủ trương ấy, không phải sáng kiến riêng lẻ.
  • Dang dở: Quang Trung mất năm 1792, chỉ ít lâu sau khi viện được lập. Công việc không kéo dài được bao lâu, và về sau nhà Nguyễn trở lại dùng chữ Hán làm chuẩn.
  • Ý nghĩa lâu dài: dù dang dở, đây là một trong những nỗ lực đáng chú ý nhất thời trung đại nhằm đưa việc học kinh điển đến gần tiếng mẹ đẻ, một vấn đề mà các nhà nho Duy Tân đầu thế kỷ 20 sẽ đặt lại với chữ quốc ngữ.

Đề xuất của Nguyễn Thiếp và câu hỏi cho giáo dục hôm nay

Đặt các đề xuất năm 1791 cạnh những câu hỏi quen thuộc hôm nay không nhằm áp ý cổ vào chính sách hiện hành, mà để thấy những điều mà việc học ở thời nào cũng phải trả lời:

Đề xuất của Nguyễn ThiếpÝ cốt lõiCâu hỏi người học hôm nay có thể tự đặt
Học để biết đạo, không vì danh lợiMục đích học là thành ngườiMình học môn này để làm gì ngoài điểm số?
Học từ thấp đến cao, có thứ tựNền móng trước, chuyên sâu sauMình có đang bỏ qua phần căn bản không?
Học rộng rồi tóm lược cho gọnĐọc nhiều nhưng phải rút ra cốt lõiMình có tóm được bài học trong vài câu không?
Theo điều học mà làmHọc gắn với thực hànhĐiều vừa học dùng được vào việc gì?
Mở trường rộng, cho chọn thầyMở cơ hội học, tôn trọng quan hệ thầy tròMình học được gì từ những người thầy ngoài lớp học?

Bảng chỉ là gợi ý để đọc bài tấu một cách sống động. Nguyễn Thiếp nói trong khuôn khổ Nho học và xã hội thế kỷ 18, với chương trình học xoay quanh kinh sử, rất khác nhà trường hiện đại.

Đánh giá Nguyễn Thiếp: giá trị và giới hạn

Giới nghiên cứu thường đánh giá cao Nguyễn Thiếp ở hai điểm: tinh thần thực học, phê phán lối học hình thức, và ý thức đưa việc học đến gần tiếng Việt qua chữ Nôm. Hình ảnh một nhà nho ở ẩn chỉ ra giúp đời khi có thể làm việc có ích cho học thuật, cho dân cũng được xem là mẫu mực của chữ "xuất xử".

Giới hạn của ông là giới hạn của khung Nho học: chương trình ông đề xuất vẫn lấy kinh sử làm trọng tâm, tam cương ngũ thường vẫn là nền đạo đức, chưa đặt ra việc học khoa học, kỹ thuật như các nhà Duy Tân về sau. Điều này không làm giảm giá trị của ông, nhưng nhắc rằng không nên gán cho ông tư tưởng giáo dục hiện đại.

Đền thờ và các dấu tích về ông ở Hà Tĩnh là nơi người dân địa phương tưởng nhớ một bậc thầy. Nếu bạn đến đó, hãy nhớ rằng di sản lớn nhất của ông không nằm ở công trình nào, mà ở một bài tấu ngắn về việc học, vẫn được học sinh cả nước đọc sau hơn hai trăm năm.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Nguyễn Thiếp được gọi là La Sơn phu tử?

La Sơn là tên vùng quê ông ở Hà Tĩnh, còn "phu tử" là danh xưng tôn kính dành cho bậc thầy, vốn dùng cho Khổng Tử. Người đương thời và hậu thế gọi ông như vậy để ghi nhận học vấn và đạo đức của một người thầy lớn ở xứ Nghệ.

Bài "Bàn luận về phép học" có phải toàn văn bài tấu không?

Không. Đoạn trong sách Ngữ văn là phần trích, tập trung vào việc học, từ bài tấu dài hơn gửi vua Quang Trung năm 1791. Bài tấu đầy đủ còn bàn về đức của vua và lòng dân. Muốn đọc trọn, bạn nên tìm các tuyển tập thơ văn Nguyễn Thiếp có bản dịch và chú thích.

Sùng chính viện tồn tại bao lâu?

Viện được lập năm 1791 dưới thời Quang Trung. Vua mất năm 1792, sau đó tình hình triều Tây Sơn nhiều biến động, nên hoạt động của viện ngắn ngủi. Các nguồn không thống nhất về thời điểm viện ngừng hẳn, nên bạn nên viết là hoạt động trong thời gian ngắn.

Nguyễn Thiếp có góp ý về việc chọn đất đóng đô không?

Sách cũ ghi ông được Quang Trung hỏi ý về việc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An. Đây là chi tiết về quan hệ chính trị, thuộc phạm vi sử học; ở góc Nho học, điều đáng chú ý hơn là các đề xuất về giáo dục của ông.

Học sinh nên học gì từ Nguyễn Thiếp?

Có ba điều dễ áp dụng: học có thứ tự, không nhảy cóc; đọc rộng nhưng tự rút ra cái cốt; và đem điều học ra làm. Đó cũng là cách học mà mọi môn đều cần. Phần lý tưởng đạo đức Nho giáo trong bài nên được hiểu trong bối cảnh lịch sử của nó.

Có nên gọi Nguyễn Thiếp là nhà cải cách giáo dục?

Nhiều sách gọi như vậy để nhấn các đề xuất đổi mới của ông. Tuy nhiên cần hiểu là cải cách trong khuôn khổ Nho học, nhằm đưa việc học trở về đúng mục đích kinh điển và gần tiếng Việt hơn, khác với các cải cách giáo dục hiện đại đưa khoa học, kỹ thuật vào chương trình.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183