Học trò Khổng Tử theo Sử ký có khoảng ba nghìn người, trong đó bảy mươi hai người thông thạo lục nghệ — đó là gốc của câu "ba nghìn đệ tử, bảy mươi hai người hiền". Còn "Khổng môn thập triết" là mười học trò được Luận ngữ nêu tên trong bốn khoa: đức hạnh có Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung; ngôn ngữ có Tể Ngã, Tử Cống; chính sự có Nhiễm Hữu, Quý Lộ (tức Tử Lộ); văn học có Tử Du, Tử Hạ.
Hai con số ấy, cùng danh sách mười người, đã đi vào việc thờ tự ở các Văn Miếu, vào sách học của trẻ xưa và vào cách người Việt nói về "cửa Khổng". Bài này giải thích các con số đến từ đâu, chúng chắc tới mức nào, giới thiệu ngắn mười người trong thập triết, và theo dấu những gì học trò làm sau khi thầy mất. Ba học trò nổi bật nhất và dòng truyền từ Tăng Tử đến Mạnh Tử có bài riêng trong cùng danh mục.
Con số ba nghìn và bảy mươi hai: đến từ đâu, chắc tới đâu
Thiên Khổng Tử thế gia của Sử ký viết rằng Khổng Tử dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc để dạy, học trò ước khoảng ba nghìn, người thông thạo lục nghệ có bảy mươi hai. Chữ "ước khoảng" quan trọng: Tư Mã Thiên không đưa ra một danh sách ba nghìn tên, mà ghi một con số tròn chỉ quy mô. Không có cách nào kiểm chứng con số ấy hôm nay.
Ngay trong Sử ký cũng có chỗ lệch. Thiên Trọng Ni đệ tử liệt truyện, chuyên chép về học trò, mở đầu bằng câu những người theo học mà thông thạo có bảy mươi bảy người, rồi liệt kê tên và một số chi tiết. Các sách khác như Khổng Tử gia ngữ lại có danh sách riêng, không hoàn toàn trùng. Vì vậy con số bảy mươi hai nên hiểu là con số truyền thống, mang ý nghĩa tượng trưng nhiều hơn là thống kê.
Con số ấy về sau trở thành chuẩn mực văn hoá. Các triều đại thờ "thất thập nhị hiền" ở Văn Miếu; sử Việt chép nhà Lý khi dựng Văn Miếu năm 1070 đã cho vẽ tượng bảy mươi hai người hiền để thờ. Khi bạn gặp con số này trên một tấm bảng thuyết minh hay trong một bài văn, nó chỉ cả tập thể học trò xuất sắc của Khổng Tử, không phải một danh sách được mọi sách thống nhất.
Khổng môn thập triết: mười người, bốn khoa
Danh sách này lấy từ thiên Tiên tiến của Luận ngữ, là nguồn chắc nhất. Cột tên gọi ghi tên họ và tên chữ thường gặp; tuổi so với thầy theo Sử ký chỉ ghi cho những người hay được nhắc.
| Khoa | Học trò | Nét nổi bật theo các nguồn |
|---|---|---|
| Đức hạnh | Nhan Uyên (Nhan Hồi), kém thầy 30 tuổi | Hiếu học bậc nhất, sống nghèo mà vui, mất trước thầy |
| Đức hạnh | Mẫn Tử Khiên (Mẫn Tổn) | Nổi tiếng hiếu thảo; từ chối làm quan cho họ Quý |
| Đức hạnh | Nhiễm Bá Ngưu (Nhiễm Canh) | Đức hạnh tốt, mắc bệnh nặng; thầy đến thăm, nắm tay qua cửa sổ mà than |
| Đức hạnh | Trọng Cung (Nhiễm Ung) | Cha bị coi là hèn kém nhưng được thầy khen có thể ngồi quay mặt về hướng nam, tức có tài trị người |
| Ngôn ngữ | Tể Ngã (Tể Dư) | Giỏi biện luận; bị thầy phê vì ngủ ngày và vì muốn rút ngắn tang ba năm |
| Ngôn ngữ | Tử Cống (Đoan Mộc Tứ), kém thầy 31 tuổi | Giỏi ngoại giao, buôn bán giàu có, giữ mộ thầy sáu năm |
| Chính sự | Nhiễm Hữu (Nhiễm Cầu) | Làm gia thần cho họ Quý, có công đón thầy về Lỗ; cũng từng bị thầy trách vì giúp họ Quý thu thuế nặng |
| Chính sự | Quý Lộ (Tử Lộ, Trọng Do), kém thầy 9 tuổi | Cương trực, dũng cảm, theo thầy lâu nhất; chết trong loạn ở nước Vệ |
| Văn học | Tử Du (Ngôn Yển) | Làm quan ở Vũ Thành, dùng lễ nhạc dạy dân |
| Văn học | Tử Hạ (Bốc Thương) | Giỏi văn hiến; về sau dạy học ở Tây Hà, được truyền thống gắn với việc truyền kinh |
"Văn học" ở đây không phải văn chương hiểu theo nghĩa hôm nay, mà là sự thông thạo văn hiến, sách vở cổ. Cũng lưu ý thập triết là cách gọi về sau; Luận ngữ chỉ liệt kê mười người theo bốn khoa, không đặt tên nhóm.
Những gương mặt ngoài thập triết mà bạn hay gặp
Danh sách thập triết thiếu một người rất quan trọng: Tăng Sâm, thường gọi là Tăng Tử. Ông kém thầy bốn mươi sáu tuổi theo Sử ký, được thầy nhận xét là chậm chạp, nhưng về sau lại là người có ảnh hưởng bậc nhất trong việc truyền học thuyết, đến mức được thờ ở hàng tứ phối, cao hơn thập triết. Lý do ông vắng mặt có lẽ đơn giản: đoạn liệt kê tứ khoa trong Luận ngữ có thể ghi về những người theo thầy trong một giai đoạn nhất định, khi Tăng Sâm còn rất trẻ.
Hữu Nhược là trường hợp thú vị khác. Sách Mạnh Tử kể sau khi thầy mất, Tử Hạ, Tử Trương, Tử Du thấy Hữu Nhược giống thầy nên muốn thờ ông như thờ thầy, Tăng Tử phản đối. Trong Luận ngữ, Hữu Nhược và Tăng Sâm là hai người duy nhất thường được gọi bằng chữ "Tử" kính trọng, điều khiến nhiều học giả đoán rằng sách được biên soạn một phần bởi học trò của hai ông.
Ngoài ra còn Tử Trương (Chuyên Tôn Sư), người hay hỏi về chuyện làm quan; Công Tây Hoa (Công Tây Xích), giỏi lễ nghi tiếp khách; Phàn Trì, người hỏi thầy cách trồng lúa, trồng rau; Tư Mã Ngưu, người hay lo lắng. Mỗi người để lại vài câu hỏi trong Luận ngữ, và chính những câu hỏi ấy làm nên phần lớn nội dung cuốn sách. Nói gọn, Luận ngữ là sách của thầy, nhưng được viết bằng câu hỏi của trò.
Học trò làm gì sau khi thầy mất
Giữ tang và giữ mộ. Theo Mạnh Tử và Sử ký, học trò để tang thầy ba năm như để tang cha; hết tang, Tử Cống còn dựng nhà bên mộ ở thêm ba năm. Nhiều học trò và người nước Lỗ đến ở quanh mộ, dần thành một xóm gọi là Khổng lý.
Ra làm quan. Một số học trò như Nhiễm Hữu, Tử Du, Tử Cống làm quan ở các nước, đem lễ nhạc và cách trị dân bằng đức vào công việc. Thiên Dương hoá có đoạn thầy đến Vũ Thành nghe tiếng đàn hát, cười mà nói giết gà sao dùng dao mổ trâu; Tử Du đáp dẫn lại lời thầy dạy, thầy liền nhận mình nói đùa.
Mở trường dạy học. Tử Hạ được Sử ký chép là về sau dạy học ở Tây Hà, được vua nước Ngụy là Ngụy Văn hầu kính làm thầy. Truyền thống nhà Hán còn gắn ông với việc truyền kinh Thi và kinh Xuân Thu, tuy các nhà nghiên cứu hiện nay coi những dòng truyền ấy là cần kiểm chứng.
Ghi chép lời thầy. Việc biên soạn Luận ngữ diễn ra qua nhiều thế hệ học trò. Không có một người biên tập duy nhất; các thiên có phong cách khác nhau, có thiên rõ ràng được thêm muộn. Đây là lý do khi trích một câu, người ta ghi rõ thiên nào.
Chia thành nhiều phái. Sách Hàn Phi Tử, thiên Hiển học, viết rằng sau khi Khổng Tử mất, Nho chia thành tám phái, kể tên các phái theo một số học trò và hậu học như Tử Trương, Tử Tư, Nhan thị, Mạnh thị. Đây là bằng chứng sớm cho thấy học trò hiểu lời thầy theo nhiều hướng khác nhau, chứ không thống nhất một khuôn.
Từ học trò thành người được thờ: tứ phối, thập triết ở Văn Miếu
Theo thời gian, các triều đại Trung Hoa xếp học trò Khổng Tử và các nhà Nho đời sau vào hệ thống thờ tự cùng thầy, gọi là phối hưởng và tòng tự. Hàng cao nhất là tứ phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử. Dưới đó là thập triết, về sau được mở rộng thành mười hai người khi thêm Hữu Nhược và Chu Hy. Thứ tự này được hình thành và điều chỉnh qua nhiều triều, không có từ thời Khổng Tử.
Ở Việt Nam, sử chép khi dựng Văn Miếu năm 1070, nhà Lý cho đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và tứ phối, vẽ tượng bảy mươi hai người hiền. Hệ thống thờ tự ở các Văn Miếu, văn chỉ địa phương về sau có nhiều biến thể; không phải nơi nào cũng thờ đủ các bậc như nhau. Khi tham quan một Văn Miếu, nếu muốn biết ai được thờ ở đâu, cách chắc nhất là hỏi bộ phận thuyết minh của di tích, vì mỗi nơi đã qua nhiều lần tu sửa, bài trí.
Việc thờ tự học trò cho thấy một ý tưởng đặc trưng của Nho giáo: truyền thống không chỉ do một người lập ra, mà do cả một chuỗi người học tiếp nối. Người được tôn vinh không phải vì phép lạ, mà vì đã học, đã dạy và đã giữ cho đạo không đứt.
Mấy điều hay nhầm khi nói về học trò Khổng Tử
Khi viết bài, soạn bài giảng hay đặt câu đố về chủ đề này, những chỗ sau dễ sai:
- "Bảy mươi hai người" không phải danh sách chắc chắn. Sử ký ghi bảy mươi hai ở một thiên và bảy mươi bảy ở thiên khác; các sách khác có danh sách riêng.
- Tăng Tử không nằm trong thập triết. Ông được thờ ở hàng tứ phối, cao hơn, nên không có tên trong danh sách mười người.
- Quý Lộ và Tử Lộ là một người. Tên ông là Trọng Do, tên chữ Tử Lộ, có nơi gọi là Quý Lộ. Tương tự, Nhan Uyên là tên chữ của Nhan Hồi.
- "Văn học" trong tứ khoa không phải văn chương. Nó chỉ sự thông thạo văn hiến, điển chương, sách cổ.
- Mạnh Tử không phải học trò trực tiếp của Khổng Tử. Ông sinh sau Khổng Tử hơn một trăm năm và theo Sử ký học với môn nhân của Tử Tư.
- Tể Ngã không phải "học trò hư". Ông bị thầy phê nặng ở vài đoạn nhưng vẫn được xếp vào hàng giỏi ăn nói trong tứ khoa.
Kiểm lại những điểm này trước khi đăng bài hay in tài liệu giúp bạn tránh những lỗi mà người đọc am hiểu nhận ra ngay.
Câu hỏi thường gặp
Khổng Tử có bao nhiêu học trò?
Sử ký ghi ước khoảng ba nghìn học trò, trong đó bảy mươi hai người thông thạo lục nghệ. Đây là con số truyền thống, không có danh sách đầy đủ để kiểm chứng. Thiên chép về học trò trong chính Sử ký lại ghi bảy mươi bảy người thông thạo.
Khổng môn thập triết gồm những ai?
Gồm Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung ở khoa đức hạnh; Tể Ngã, Tử Cống ở khoa ngôn ngữ; Nhiễm Hữu, Quý Lộ ở khoa chính sự; Tử Du, Tử Hạ ở khoa văn học. Danh sách lấy từ thiên Tiên tiến của Luận ngữ.
Tứ phối là những ai?
Tứ phối là bốn bậc được thờ phối hưởng cạnh Khổng Tử ở hàng cao nhất: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử. Hệ thống này hình thành dần qua các triều đại Trung Hoa, không có từ thời Khổng Tử, và được các Văn Miếu ở Việt Nam tiếp nhận.
Học trò nào theo Khổng Tử lâu nhất?
Tử Lộ thường được coi là người theo thầy lâu và gắn bó nhất, ông chỉ kém thầy chín tuổi và có mặt trong nhiều đoạn chu du. Ông mất năm 480 trước Công nguyên trong cuộc loạn ở nước Vệ, trước thầy một năm.
"Nho phân vi bát" nghĩa là gì?
Đây là câu trong thiên Hiển học của sách Hàn Phi Tử, nói rằng sau khi Khổng Tử mất, Nho gia chia thành tám phái. Câu này cho thấy học trò và hậu học hiểu lời thầy theo nhiều hướng, mỗi phái nhấn một mặt khác nhau.
Vì sao Tể Ngã bị Khổng Tử phê nặng mà vẫn ở trong thập triết?
Luận ngữ ghi thầy phê Tể Ngã vì ngủ ngày và vì ông đề nghị rút ngắn tang ba năm. Nhưng thập triết xếp theo sở trường, và Tể Ngã giỏi biện luận nên vẫn đứng ở khoa ngôn ngữ. Điều này cho thấy thầy phê từng việc chứ không gạt bỏ con người.