NhoGiao.comNho Giáo
Danh nho Việt Nam

Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy học ở am Bạch Vân: một trạng nguyên chọn làm thầy giáo làng

Bỏ qua sấm ký, bài nhìn Nguyễn Bỉnh Khiêm như một nhà nho: đỗ trạng nguyên 1535, từ quan về quê dựng am Bạch Vân, dạy học trò và sống theo đạo trung dung.

A slow river bend in the Hai Phong countryside at dusk, a small wooden ferry landing, rice fields and a tiled roof among bamboo across the water, no people

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) đỗ trạng nguyên khoa năm 1535 đời Mạc, làm quan khoảng tám năm rồi xin về quê ở Vĩnh Lại (nay thuộc Hải Phòng), dựng am Bạch Vân để đọc sách, làm thơ và dạy học trong mấy chục năm cuối đời. Học trò của ông có nhiều người đỗ đạt và làm quan ở cả hai phía Lê – Mạc, đáng kể là Phùng Khắc Khoan.

Người Việt quen gọi ông là Trạng Trình và gắn tên ông với sấm ký. Bài này cố ý gạt phần ấy sang một bên (các trang chuyên về sấm ký, Thái Ất đã bàn), để nhìn ông đúng như sử cũ và văn bản ông để lại cho thấy: một nhà nho có học vấn sâu, lấy dạy học làm sự nghiệp chính, và đặt chữ "trung" của đạo trung dung vào trung tâm lối sống.

Từ trạng nguyên đến người về quê

Nguyễn Bỉnh Khiêm học từ nhỏ, theo sách cũ có học với bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Ông không đi thi sớm dưới triều Lê đang rối ren, đến khi nhà Mạc mở khoa năm 1535 mới dự thi và đỗ đầu, khi đã ngoài bốn mươi tuổi. Đỗ trạng nguyên muộn như vậy cho thấy ông có nhiều năm tích luỹ học vấn trước khi ra làm quan.

Sử cũ chép ông có dâng sớ xin trừng trị những kẻ lộng quyền trong triều nhưng không được nghe, rồi xin về quê. Ông vẫn được nhà Mạc trọng, tước Trình Tuyền hầu rồi Trình quốc công, nên dân gian gọi là Trạng Trình. Triều đình vẫn hỏi ý ông về việc lớn, nhưng nơi ông sống và làm việc chủ yếu từ đó là quê nhà.

Ở góc Nho học, đây là một lựa chọn "xuất – xử" quen thuộc: ra làm quan khi có thể đem đạo giúp đời, lui về khi lời nói không còn được dùng. Điểm đặc biệt là ông không lui về để im lặng. Mấy chục năm sau đó là quãng đời ông dạy học, viết, và làm việc ích cho làng xóm.

Bối cảnh: kẻ sĩ thế kỷ 16 giữa hai triều

Muốn hiểu lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cần đặt ông vào thời cuộc. Năm 1527 Mạc Đăng Dung lên ngôi, chấm dứt triều Lê sơ. Ít năm sau, lực lượng phù Lê nổi lên ở Thanh Hoá, mở đầu thời kỳ Nam – Bắc triều kéo dài nhiều chục năm. Với nhà nho học theo chữ "trung" (trung thành với vua) như kinh điển dạy, đây là thời khó xử: theo triều mới thì bị chê là bỏ chủ cũ, không theo thì bỏ phí học vấn.

Nhà Mạc vẫn giữ khoa cử đều đặn, coi trọng việc lấy người qua thi cử, nên không ít nho sĩ ra làm quan cho triều Mạc. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số đó, và đỗ đầu ngay khoa thi đầu tiên ông dự. Về sau sử thần nhà Lê trung hưng nhìn nhà Mạc với con mắt khắt khe, nên cách đánh giá những người như ông trong sử cũ cũng có lúc thiên lệch.

Ở góc Nho học, trường hợp của ông cho thấy một cách hiểu chữ "trung" rộng hơn trung với một dòng họ: trung với việc yên dân, với đạo học, với lương tâm kẻ sĩ. Đó cũng là chỗ giới nghiên cứu còn tranh luận, và người đọc nên biết cả hai cách nhìn thay vì chọn ngay một phán xét.

Am Bạch Vân, quán Trung Tân và những công trình của một nhà nho ở làng

Sách cũ và di tích ở quê ông nhắc đến một số công trình gắn với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhìn chúng như một tập hợp giúp hiểu lối sống của ông:

  • Am Bạch Vân (am mây trắng): nơi ông ở, đọc sách, tiếp học trò. Tên am đi vào tên tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập và tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi. Tên "mây trắng" gợi cuộc sống thanh đạm, ngoài vòng danh lợi, một hình ảnh quen thuộc của văn chương ẩn dật.
  • Quán Trung Tân: ngôi quán bên bến sông được dựng lại, có bài ký khắc bia do ông soạn. Chữ "trung" trong tên quán được nhiều nhà nghiên cứu gắn với tư tưởng trung dung, giữ mức vừa phải, không thiên lệch; chữ "tân" là bến. Một cái quán cho người qua đường nghỉ chân, đặt tên bằng một khái niệm kinh điển, là cách nhà nho đưa chữ nghĩa vào đời thường.
  • Việc công ích ở làng: sách cũ và truyền thuyết địa phương kể ông góp công dựng cầu, sửa chùa quán. Mức độ chi tiết của các chuyện này nên coi là truyền thuyết địa phương, nhưng hình ảnh nhà nho làm việc ích cho làng là có thật trong truyền thống.
  • Trường học tại gia: cốt lõi của mọi công trình trên. Am, quán, cầu đều là phụ; việc chính ở Bạch Vân là dạy.

Ông dạy ai và dạy thế nào

Học trò đông và đa dạng. Sử và sách đời sau ghi nhiều học trò của ông đỗ đạt, làm quan. Tên thường được nhắc là Phùng Khắc Khoan, người về sau làm quan cho nhà Lê trung hưng và đi sứ, và Lương Hữu Khánh. Một số tài liệu còn nhắc Nguyễn Dữ, tác giả Truyền kỳ mạn lục, là học trò ông; điều này nên ghi "theo một số tài liệu".

Dạy kinh điển cho người đi thi. Một trường của trạng nguyên tất nhiên dạy Tứ thư, Ngũ kinh, lối văn thi cử. Nhưng việc học trò của ông phục vụ cả hai triều đối địch cho thấy ông không biến lớp học thành nơi đào tạo người cho một phe; ông dạy đạo học, còn học trò tự chọn đường.

Dạy bằng lối sống. Với Nho gia, thầy dạy nhiều nhất bằng cách mình sống. Một trạng nguyên từ quan, sống thanh đạm, làm thơ về chữ nhàn, giữ quan hệ đúng mực với triều đình, chính là bài giảng về xuất xử cho học trò đứng xem hằng ngày.

Dạy chữ "thời". Thơ văn ông nói nhiều về thời thế, về biết lúc tiến lúc lui. Ở góc Nho học, đây là sự vận dụng ý "tuỳ thời" có trong kinh điển, đặt vào một giai đoạn nhiều biến động Lê – Mạc phân tranh.

Chữ "nhàn" và chữ "trung": tư tưởng nhìn từ thơ văn

Bài thơ Nôm "Nhàn" quen thuộc trong sách giáo khoa, với hình ảnh "một mai, một cuốc, một cần câu" và lối tự nhận "ta dại ta tìm nơi vắng vẻ", là văn bản mà nhiều người Việt biết về ông nhất. Phần nghệ thuật thơ thuộc lĩnh vực văn học; ở đây chỉ cần thấy chữ "nhàn" ấy không phải lười biếng, mà là thái độ đứng ngoài tranh đoạt danh lợi.

Chữ "nhàn" của ông có ảnh hưởng của Lão Trang và tâm thế Thiền, điều thường thấy ở nhà nho Việt trung đại khi ở ẩn. Nhưng xương sống vẫn là Nho: ông vẫn lo cho dân, vẫn bàn đạo quân thần, vẫn đặt chữ "trung" làm mực thước. Nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là sự dung hợp, trong đó Nho là trục chính còn Lão, Phật cho thêm chiều sâu về thái độ sống.

Một điểm cần tránh: đừng biến chữ "nhàn" thành bằng chứng ông "chán Nho giáo". Nho học vốn có sẵn chỗ cho lui về, từ lời Khổng Tử khen Nhan Hồi vui trong cảnh nghèo đến ý Mạnh Tử về người quân tử khi cùng thì giữ mình cho tốt. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trọn phần "xử" ấy, chứ không bước ra khỏi truyền thống.

Tách Nguyễn Bỉnh Khiêm lịch sử khỏi Trạng Trình truyền thuyết

Vì danh tiếng sấm ký quá lớn, nhiều bài viết trộn lẫn sử và truyền thuyết. Bảng dưới gợi cách phân loại khi đọc hoặc viết về ông:

Thông tinThuộc loạiGợi ý khi viết
Đỗ trạng nguyên năm 1535 dưới triều MạcSử chépGhi thẳng
Làm quan rồi xin về quê, dựng am Bạch VânSử chép, có di tíchGhi thẳng
Có các tập thơ chữ Hán và chữ Nôm mang tên Bạch VânVăn bản còn một phầnNói rõ là chỉ còn một phần, số bài theo nguồn
Học trò Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu KhánhSách cũ ghiGhi thẳng, có thể kèm "theo sách cũ"
Các lời khuyên cho chúa Trịnh, chúa Nguyễn, nhà MạcGiai thoại lưu truyềnGhi "giai thoại kể rằng", không coi là sử
Sấm ký đoán trước các sự kiện đời sauTruyền thuyết, văn bản gán tênKhông thuộc phạm vi Nho học, chỉ nhắc một câu

Nhìn như vậy, phần "lịch sử" của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn đủ lớn: một nhà nho đỗ đầu, từ quan, dạy học mấy chục năm và để lại thơ văn có tư tưởng. Không cần đến sấm ký, ông vẫn là một trong những danh nho tiêu biểu nhất thế kỷ 16.

Gợi ý khi tìm hiểu hoặc dẫn học sinh đi thăm

Khu di tích đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê ông nay thuộc thành phố Hải Phòng. Nếu đưa học sinh đến, bạn có thể đặt nhiệm vụ cụ thể: tìm hiểu vì sao một người đỗ đầu lại về làng dạy học, liệt kê những dấu tích của việc học ở đó, và so với hình ảnh "Trạng Trình tiên tri" mà các em đã nghe. Cách hỏi này giúp các em tự phân biệt sử và truyền thuyết.

Nếu muốn đọc sâu, hãy tìm các tuyển tập thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do giới Hán Nôm biên dịch, có phần khảo về văn bản. Đọc một số bài thơ chữ Hán về thời thế và bài ký quán Trung Tân qua bản dịch có chú thích sẽ cho bạn hình dung về tư tưởng của ông rõ hơn mọi giai thoại.

Khi viết nội dung văn hoá về ông, nên đặt câu hỏi cho từng chi tiết: chi tiết này từ chính sử, từ văn bản của ông, hay từ truyện kể? Sự thận trọng ấy cũng là cách tôn trọng một nhà nho từng lấy chữ "trung", tức sự đúng mực, làm lẽ sống.

Với giáo viên, có thể dùng trường hợp này làm bài tập phân loại nguồn: phát cho học sinh năm thông tin về ông, gồm cả sử chép, văn bản ông viết, truyện kể dân gian và một câu sấm lan truyền, rồi cho các em xếp mức tin cậy và giải thích. Bài tập ngắn nhưng rèn được thói quen đọc tỉnh táo.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm được gọi là Trạng Trình?

Ông đỗ trạng nguyên và được nhà Mạc phong tước Trình Tuyền hầu, sau là Trình quốc công. Dân gian ghép danh hiệu trạng nguyên với chữ "Trình" trong tước hiệu thành Trạng Trình. Tên gọi này về sau gắn chặt với các truyện kể về khả năng đoán trước của ông.

Nguyễn Bỉnh Khiêm có phải thầy của Nguyễn Dữ không?

Một số tài liệu cho rằng Nguyễn Dữ, tác giả Truyền kỳ mạn lục, từng học ông. Tuy nhiên thông tin về Nguyễn Dữ vốn ít và các nguồn không hoàn toàn thống nhất. Khi viết, bạn nên ghi "theo một số tài liệu" thay vì khẳng định như sự thật đã rõ.

Am Bạch Vân hiện còn không?

Ở quê ông hiện có khu di tích đền thờ và các công trình tưởng niệm, trong đó có những hạng mục được dựng lại hoặc tôn tạo qua nhiều thời kỳ. Am nguyên gốc thế kỷ 16 khó còn nguyên vẹn; bạn nên hỏi ban quản lý di tích để biết phần nào là dựng mới.

Tư tưởng chính của Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì?

Nhiều nhà nghiên cứu gom lại ở mấy điểm: lấy đạo trung dung làm mực thước, coi trọng việc yên dân, đề cao thái độ nhàn tản ngoài danh lợi, và nhạy cảm với thời thế. Đó là Nho học dung hợp với Lão, Thiền, rất tiêu biểu cho nhà nho Việt thời loạn.

Học trò của ông làm quan cho triều nào?

Học trò của ông làm quan ở cả nhà Mạc và nhà Lê trung hưng. Phùng Khắc Khoan là trường hợp được nhắc nhiều, ông làm quan cho triều Lê trung hưng. Điều này thường được dùng để minh hoạ rằng trường của ông dạy đạo học chung chứ không dạy theo phe.

Đọc gì để hiểu Nguyễn Bỉnh Khiêm ngoài sấm ký?

Bạn nên tìm tuyển tập thơ văn của ông có chú thích, các bài nghiên cứu về văn bản Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, cùng các chương về thế kỷ 16 trong sách lịch sử tư tưởng Việt Nam. Những nguồn này giúp bạn thấy một nhà nho có thật, thay cho hình ảnh nhà tiên tri.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183