NhoGiao.comNho Giáo
Danh nho Việt Nam

Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng: ba nhà khoa bảng và Nho học

Một giải nguyên, một phó bảng, một tiến sĩ: bài đọc riêng từng người xem họ học Nho thế nào, mang vốn ấy vào việc mới ra sao và giữ lại gì của Khổng Mạnh.

Old colonial-era school corridor with tall wooden shutters in Hue, light falling across worn tiles, a stack of blank slates on a bench, an empty classroom beyond

Phan Bội Châu (1867–1940), Phan Châu Trinh (1872–1926) và Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) đều đỗ đạt qua khoa cử Nho học (giải nguyên, phó bảng, tiến sĩ); mỗi người mang vốn Nho học ấy vào một con đường khác nhau: Phan Bội Châu cuối đời viết Khổng học đăng để trình bày lại Khổng Mạnh, Phan Châu Trinh dùng nó để đối chiếu đạo đức Đông – Tây, Huỳnh Thúc Kháng đem phong cách nhà nho vào nghề làm báo.

Bức tranh chung về Nho học suy tàn, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và các cuộc tranh luận phê phán Nho giáo đầu thế kỷ 20 đã có ở những bài khác của trang. Bài này đi hẹp hơn: đọc riêng từng người như một danh nho, xem họ học gì, viết gì, và quan hệ của mỗi người với kinh điển Khổng Mạnh khác nhau ra sao. Đời hoạt động chính trị của ba ông chỉ được nhắc đủ để hiểu bối cảnh.

Ba con đường khoa bảng

Trước khi thành những gương mặt của thời Duy Tân, cả ba đều đi trọn hoặc gần trọn con đường khoa cử. Bảng dưới tóm các mốc được ghi phổ biến:

Nhân vậtQuê (tên hiện hành)Học vị Nho họcHướng đi sau đó
Phan Bội ChâuNghệ AnĐỗ đầu thi Hương năm 1900 (giải nguyên)Hoạt động ở trong và ngoài nước, cuối đời sống ở Huế
Phan Châu TrinhQuảng Nam xưa, nay thuộc Đà NẵngĐỗ phó bảng năm 1901Làm quan ít năm rồi từ quan, cổ động duy tân, sống nhiều năm ở Pháp
Huỳnh Thúc KhángQuảng Nam xưa, nay thuộc Đà NẵngĐỗ tiến sĩ năm 1904Không ra làm quan, cổ động duy tân, về sau làm báo ở Huế

Điểm chung đáng chú ý: cả ba có vị trí cao trong thế giới Nho học, nên khi nói về Nho giáo, dù để bênh hay để phê, họ nói như người trong cuộc, hiểu tận gốc thứ mình bàn. Đó là khác biệt lớn so với những lời khen chê Nho giáo từ người không đọc kinh điển.

Cũng vì xuất thân ấy, uy tín của họ với giới sĩ phu đương thời rất lớn. Một tiến sĩ, một phó bảng, một giải nguyên đứng ra khuyên học chữ quốc ngữ, học khoa học có sức thuyết phục hơn nhiều so với lời kêu gọi của người ngoài giới.

Đọc "tân thư" bằng con mắt nhà nho

Cả ba tiếp xúc với tư tưởng mới đầu tiên không qua tiếng Pháp mà qua chữ Hán: sách của các nhà cải cách Trung Hoa như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, và những bản dịch chữ Hán về tư tưởng phương Tây, giới nho sĩ gọi chung là "tân thư". Vốn chữ Hán học để thi cử bỗng thành chìa khoá mở ra một thế giới khác.

Điều đáng chú ý là họ đọc cái mới bằng khung cũ. Khi gặp khái niệm dân quyền, họ liên tưởng ngay đến ý "dân vi quý" của Mạnh Tử; khi đọc về tinh thần tự cường của các nước, họ nhớ đến ý "tự cường bất tức", tự mình gắng sức không ngừng, mà nhà nho thuộc từ kinh điển. Lối đọc này vừa giúp tiếp nhận nhanh, vừa có nguy cơ hiểu cái mới theo nghĩa cũ, điều giới nghiên cứu đã phân tích nhiều.

Mỗi người dừng ở một điểm khác nhau trên con đường ấy. Không nên hình dung đây là cuộc "bỏ Nho theo Tây" một sớm một chiều, cũng không nên coi ba ông có cùng một quan điểm. Ba mục dưới đây đọc riêng từng người.

Phan Bội Châu: từ giải nguyên trường Nghệ đến Khổng học đăng

Phan Bội Châu nổi tiếng văn hay chữ tốt từ thời đi học, đỗ đầu thi Hương ở trường Nghệ năm 1900. Phần lớn trước tác của ông trong mấy chục năm hoạt động là văn chữ Hán, nhiều bài viết ở nước ngoài để cổ động trong nước. Đó là văn của một nhà nho dùng đúng sở trường của mình, lối văn biền ngẫu, điển cố, cho một mục đích mới.

Những năm cuối đời, khi sống ở Huế dưới sự quản thúc của chính quyền thuộc địa, ông chuyển nhiều sang viết bằng quốc ngữ và quay lại với kinh điển. Khổng học đăng (ngọn đèn Khổng học) là bộ sách ông trình bày lại tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử và các nhà Nho qua lời giảng của mình. Nhiều nhà nghiên cứu đọc sách này như nỗ lực tách phần tinh thần của Khổng học khỏi lớp vỏ khoa cử và chế độ cũ: Nho học không phải để thi đỗ làm quan, mà là đạo làm người, đạo yêu nước, thương dân.

Đặt Khổng học đăng cạnh cuộc đời ông, ta thấy một vòng tròn đáng suy nghĩ. Người từng dẫn đầu phong trào đổi mới cuối đời lại viết một bộ sách bênh vực Khổng Mạnh, nhưng là Khổng Mạnh đã được đọc lại sau mấy chục năm va chạm với thế giới. Bản in lại hiện có nhiều; bạn nên chọn bản có lời giới thiệu và chú thích để thấy rõ bối cảnh ra đời.

Phan Châu Trinh: một phó bảng đối chiếu đạo đức Đông – Tây

Phan Châu Trinh đỗ phó bảng năm 1901, làm quan ở bộ Lễ ít năm rồi từ quan. Ông nổi tiếng với những lời lẽ thẳng thắn về thói học khoa cử và lối ứng xử của giới quan trường; phần các cuộc tranh luận phê phán Nho giáo đầu thế kỷ 20 đã được bàn ở bài riêng. Ở đây chỉ dừng ở một văn bản thể hiện rõ cách ông dùng vốn Nho học: bài diễn thuyết "Đạo đức và luân lý Đông Tây" ở Sài Gòn năm 1925, ít lâu trước khi ông mất.

Theo cách tóm tắt phổ biến, ông phân biệt hai thứ. "Đạo đức" là những nguyên tắc làm người căn bản, mà theo ông, các bậc hiền triết Đông Tây không khác nhau là mấy; ông vẫn đánh giá cao đạo đức Khổng Mạnh. "Luân lý" là phép tắc ràng buộc người với người trong xã hội; ở chỗ này ông cho rằng người Việt đã có luân lý gia đình khá đầy đủ (theo ngũ luân), nhưng thiếu luân lý quốc gia, xã hội, tức ý thức về bổn phận với cộng đồng rộng hơn gia đình và vua.

Đọc như vậy, Phan Châu Trinh không phủ định trọn Nho giáo, mà dùng chính các khái niệm Nho để chỉ ra chỗ thiếu của nó và đề nghị bổ sung. Khi trích bài diễn thuyết, bạn nên dùng bản in trong tuyển tập tác phẩm của ông, vì nhiều câu lan truyền trên mạng đã bị cắt khỏi mạch lập luận.

Huỳnh Thúc Kháng: tiến sĩ không làm quan, nhà nho làm báo

Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ năm 1904 nhưng không nhận chức, cùng bạn đồng hương Phan Châu Trinh cổ động duy tân ở Quảng Nam. Năm 1908 ông bị bắt và đày đi Côn Lôn hơn chục năm. Các tài liệu thường kể rằng trong thời gian ấy ông tự học thêm tiếng Pháp, một chi tiết cho thấy tinh thần học suốt đời của nhà nho không dừng ở chữ Hán.

Từ cuối những năm 1920, ông đứng ra lập và điều hành báo Tiếng Dân ở Huế trong nhiều năm. Một tiến sĩ Nho học làm chủ bút một tờ báo quốc ngữ là hình ảnh rất đặc trưng của giai đoạn chuyển giao. Văn báo của ông được đánh giá là mực thước, cẩn trọng, giữ chữ tín với người đọc, những phẩm chất mà nhà nho đặt lên hàng đầu, nay áp vào một nghề mới hoàn toàn.

Ở Huỳnh Thúc Kháng, Nho học hiện ra như một nhân cách hơn là một hệ thống học thuyết: thanh bạch, không màng chức tước, trọng lời nói, giữ khí tiết. Ông ít viết sách bàn lý thuyết Nho giáo như Phan Bội Châu, nhưng cách sống của ông là một câu trả lời cho câu hỏi "nhà nho trong thời mới thì sống thế nào".

Đọc ba nhà khoa bảng thế nào cho đúng

Ba ông dễ bị kéo về hai cực: tôn vinh như những người "đánh đổ Nho giáo", hoặc tiếc nuối như những người "phản bội truyền thống". Vài lưu ý giúp đọc cân bằng hơn:

  • Phân biệt ba người. Ba ông khác nhau rõ về con đường và quan điểm, nhất là về cách cứu nước. Gộp chung thành một khối "nhà nho Duy Tân" là làm mất sắc thái.
  • Đặt họ trong dòng Nho học tự phê phán. Truyền thống Nho vốn có những người chê lối học sai mục đích, như Nguyễn Thiếp cuối thế kỷ 18. Ba ông tiếp nối dòng ấy với công cụ mới.
  • Đọc văn bản gốc khi có thể. Tuyển tập tác phẩm của từng người đã được xuất bản. Đọc trực tiếp giúp tránh những câu trích bị cắt khỏi ngữ cảnh.
  • Không dùng họ để bình luận thời sự. Tư tưởng của họ hình thành trong bối cảnh thuộc địa đầu thế kỷ 20. Áp thẳng vào chuyện hôm nay là đọc lệch thời.
  • Ghi đúng năm, đúng học vị. Năm đỗ, học vị được chép lại nhiều lần trên mạng và không ít chỗ sai lệch; khi viết nghiêm túc nên đối chiếu với sách tiểu sử có uy tín.

Lớp khoa bảng cuối cùng

Khoa thi Nho học cuối cùng ở Việt Nam diễn ra năm 1919. Ba ông đỗ đạt chỉ khoảng hai mươi năm trước mốc đó, nghĩa là họ thuộc những thế hệ khoa bảng cuối cùng. Họ là những người hiểu tường tận lối học cũ, và chính vì hiểu nên đủ sức giải thích vì sao phải đổi, đổi đến đâu, giữ lại gì.

Với học sinh, câu chuyện ba nhà khoa bảng gợi một bài học thực tế: học vấn vững ở một hệ thống không ngăn người ta học hệ thống khác, trái lại còn giúp đọc cái mới sâu hơn. Điều quan trọng là thái độ chịu nhìn lại mình, điều mà chính kinh điển Nho gia cũng đề cao qua lời Tăng Tử về việc mỗi ngày tự xét mình.

Nếu muốn tìm hiểu tiếp, bạn có thể đi theo dấu ba người qua các di tích: nhà lưu niệm Phan Bội Châu ở Huế và ở quê Nghệ An, khu mộ và nhà thờ Phan Châu Trinh, khu lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng ở quê. Đi thăm kèm một cuốn tuyển tập tác phẩm sẽ giúp những nơi ấy không chỉ là điểm chụp ảnh.

Câu hỏi thường gặp

Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đỗ những gì?

Theo các tài liệu phổ biến, Phan Bội Châu đỗ đầu thi Hương năm 1900, Phan Châu Trinh đỗ phó bảng năm 1901, Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ năm 1904. Cả ba đều thuộc lớp khoa bảng cuối cùng trước khi khoa cử Nho học chấm dứt vào năm 1919.

Khổng học đăng là sách gì?

Đây là sách Phan Bội Châu viết trong những năm cuối đời ở Huế, trình bày lại học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử và các nhà Nho. Sách thường được đọc như nỗ lực của một nhà nho đã trải qua phong trào cách tân nhìn lại giá trị cốt lõi của Khổng học. Có nhiều bản in lại, bạn nên chọn bản có chú thích.

Bài "Đạo đức và luân lý Đông Tây" nói gì?

Đây là bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh ở Sài Gòn năm 1925. Ý chính thường được nêu là phân biệt đạo đức, phần căn bản mà Đông Tây gần nhau, với luân lý, phép tắc giữa người với người, trong đó người Việt mạnh về luân lý gia đình nhưng thiếu luân lý quốc gia, xã hội.

Phan Châu Trinh có chống Nho giáo không?

Ông phê phán gay gắt lối học khoa cử, thói hủ nho và những gì ông cho là làm dân trí trì trệ. Nhưng trong các bài diễn thuyết, ông vẫn đánh giá cao đạo đức Khổng Mạnh và đề nghị bổ sung chứ không xoá bỏ. Nói ông "chống Nho giáo" một cách tuyệt đối là đơn giản hoá quan điểm của ông.

Báo Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng là báo gì?

Tiếng Dân là tờ báo quốc ngữ ra ở Huế từ cuối những năm 1920, do Huỳnh Thúc Kháng sáng lập và làm chủ bút trong nhiều năm. Tờ báo thường được nhắc như ví dụ tiêu biểu về một nhà nho khoa bảng chuyển sang nghề báo, giữ văn phong mực thước và tinh thần trọng chữ tín.

Nên đọc gì để hiểu thêm về ba ông?

Bạn có thể đọc tuyển tập tác phẩm của từng người đã được xuất bản, các sách tiểu sử của nhà nghiên cứu có uy tín, và các chương về đầu thế kỷ 20 trong sách lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đọc văn bản gốc giúp bạn thấy sự khác nhau giữa ba ông rõ hơn mọi bài tóm tắt.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183