Tam tòng là ba điều “theo” đặt cho người phụ nữ: chưa lấy chồng theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng mất theo con (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Tứ đức là bốn phẩm chất: công, dung, ngôn, hạnh. Cả hai đều có gốc trong các sách lễ của Nho gia — tam tòng ở Nghi lễ, tứ đức ở Chu lễ và Lễ ký — rồi được hậu Nho và nhà nước phong kiến biến thành chuẩn mực ràng buộc phụ nữ.
Ít người biết rằng câu tam tòng ban đầu xuất hiện trong phần bàn về phép để tang, để giải thích người phụ nữ mặc tang cho ai, nặng hay nhẹ. Từ một quy định về nghi lễ, nó dần thành nguyên tắc về địa vị phụ nữ trong cả cuộc đời. Bài này lần theo quá trình đó, xem đời sống phụ nữ Việt xưa có thật sự theo đúng khuôn ấy không, và người đọc hôm nay nên hiểu cụm từ này thế nào.
Câu tam tòng nằm ở đâu và nói trong bối cảnh nào
Câu tam tòng được chép trong Nghi lễ, phần Tang phục, ở lời truyện giải thích kèm theo: người phụ nữ có nghĩa tam tòng, không có đạo tự chuyên; cho nên chưa gả thì theo cha, đã gả thì theo chồng, chồng chết thì theo con. Ngay sau đó, sách giải thích chuyện người con gái đã lấy chồng để tang cha mẹ đẻ nhẹ hơn trước, vì nay người ấy đã “theo” nhà chồng.
Như vậy, trong văn cảnh gốc, “tòng” trước hết là chuyện thuộc về gia đình nào trong hệ thống tang lễ và thờ cúng. Một người phụ nữ ở mỗi giai đoạn đời được tính là thành viên của gia đình cha, rồi gia đình chồng, và cách mặc tang thay đổi theo đó. Đây là logic của chế độ tông pháp phụ hệ thời Chu: dòng họ được tính theo đàn ông, nên vị trí của phụ nữ được xác định qua người đàn ông gần nhất.
Lễ ký, thiên Giao đặc sinh, cũng có ý tương tự, nói người phụ nữ là người “theo” người khác. Không có đoạn nào trong Luận ngữ nêu tam tòng; Khổng Tử chỉ có vài câu về phụ nữ, trong đó câu ở thiên Dương Hoá về “nữ tử và tiểu nhân khó nuôi” là câu bị tranh luận nhiều nhất về sau.
Câu ấy, “duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã”, đại ý chỉ có đàn bà và kẻ tiểu nhân là khó cư xử: gần thì họ nhờn, xa thì họ oán. Các nhà chú giải không thống nhất: có người hiểu “nữ tử” là phụ nữ nói chung, có người cho rằng câu nói nhắm vào người hầu gái và kẻ hầu hạ trong nhà quyền quý, gắn với một hoàn cảnh cụ thể. Dù hiểu thế nào, câu này cách tam tòng một khoảng xa, và không thể coi là nguồn của tam tòng.
Ba chữ “tòng”: văn bản gốc, diễn giải về sau, thực tế đời sống
Bảng đặt ba giai đoạn của tam tòng cạnh nhau để thấy khoảng cách giữa câu chữ, cách hiểu chính thống và đời sống. Cột cuối là các nhận xét phổ biến của giới nghiên cứu về xã hội Việt Nam xưa.
| Giai đoạn | Ý trong sách lễ | Cách hậu Nho siết lại | Thực tế thường gặp ở Việt Nam |
|---|---|---|---|
| Tại gia tòng phụ | Con gái thuộc gia đình cha, để tang theo phép nhà cha | Con gái phải vâng lời cha tuyệt đối, kể cả chuyện hôn nhân | Hôn nhân do cha mẹ quyết, nhưng người mẹ thường có tiếng nói lớn |
| Xuất giá tòng phu | Lấy chồng thì thuộc gia đình chồng | Vợ phải phục tùng chồng, không được tự quyết | Nhiều phụ nữ buôn bán, giữ tiền, quán xuyến kinh tế gia đình |
| Phu tử tòng tử | Chồng mất thì nương theo con trai | Goá phụ không nên tái giá, sống theo con | Mẹ goá thường làm chủ gia đình, con trai phải hiếu với mẹ |
Điểm đáng chú ý nhất là vế thứ ba. Trong hệ đạo đức Nho giáo, con phải hiếu với cha mẹ, nên “theo con” khó có thể hiểu là mẹ phục tùng con. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vế này nói về chỗ nương tựa và vị trí trong dòng họ hơn là quan hệ mệnh lệnh.
Tứ đức đến từ đâu
Bốn chữ đức, ngôn, dung, công gốc là “phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công”. Chu lễ, phần Thiên quan, nói các nữ quan gọi là cửu tần có nhiệm vụ dạy phép học của phụ nữ, gồm bốn điều ấy. Lễ ký, thiên Hôn nghĩa, cũng nhắc việc dạy con gái bốn điều này trước khi về nhà chồng.
Người giảng giải tứ đức cụ thể và có ảnh hưởng nhất là Ban Chiêu, nữ học giả đời Đông Hán, em gái sử gia Ban Cố. Trong sách Nữ giới, bà giải thích từng đức và nhấn mạnh rằng đức không đòi tài năng xuất chúng, ngôn không đòi khéo ăn nói, dung không đòi nhan sắc, công không đòi tay nghề hơn người. Phần giải nghĩa chi tiết từng chữ có trong bài riêng về công dung ngôn hạnh trên trang.
Thứ tự trong sách Hán là đức, ngôn, dung, công. Người Việt quen nói “công, dung, ngôn, hạnh”, thay “đức” bằng “hạnh” và đảo thứ tự. Sự đảo này không làm đổi nội dung, nhưng cho thấy cụm từ đã được “Việt hoá” khi đi vào lời ăn tiếng nói.
Hậu Nho và nhà nước phong kiến siết chặt thế nào
Từ đời Hán, Liệt nữ truyện của Lưu Hướng và Nữ giới của Ban Chiêu thành sách dạy phụ nữ, tạo ra mẫu người phụ nữ lý tưởng gồm hiền mẫu, vợ hiền, tiết phụ. Đến đời Tống, các nhà Lý học đẩy chữ tiết lên rất cao. Câu của Trình Di, đại ý chết đói là việc nhỏ, mất tiết là việc lớn, nói khi được hỏi về chuyện goá phụ nghèo có nên tái giá, về sau thường được dẫn làm ví dụ cho sự khắt khe của Tống Nho.
Từ đó các triều đại ở Trung Hoa, và cả ở Việt Nam, có lệ ban thưởng, dựng biển, ghi tên những phụ nữ thủ tiết thờ chồng. Tam tòng tứ đức được đưa vào sách dạy trẻ, gia huấn, và trở thành thước đo để làng xã, dòng họ đánh giá người phụ nữ. Những người không theo khuôn ấy, như goá phụ tái giá, thường chịu dư luận nặng nề.
Cần ghi nhận rằng quá trình siết chặt này diễn ra dần qua nhiều thế kỷ và mạnh yếu khác nhau theo thời. Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lễ giáo đối với phụ nữ khắt khe hơn dưới thời Nguyễn so với thời Lê sơ, một phần vì bộ luật nhà Nguyễn phỏng theo luật nhà Thanh.
Phụ nữ Việt xưa có thật sự sống theo tam tòng?
Kinh tế gia đình nằm nhiều trong tay phụ nữ. Hình ảnh người vợ buôn bán nuôi chồng đi học, đi thi rất quen thuộc trong văn chương và trong ký ức các làng khoa bảng. Bài thơ Thương vợ của Tú Xương là một ví dụ nổi tiếng về người vợ gánh cả gia đình nhà nho.
Tục ngữ nói khác sách. Câu “lệnh ông không bằng cồng bà”, “của chồng công vợ” cho thấy trong đời sống thật, tiếng nói của người vợ có trọng lượng, và công sức của vợ được cộng đồng ghi nhận.
Luật thời Lê có những điều khoản bảo vệ phụ nữ. Bộ Quốc triều hình luật, thường gọi là luật Hồng Đức, có quy định về tài sản và quyền của người vợ mà giới nghiên cứu đánh giá là tiến bộ so với nhiều bộ luật cùng thời. Bài riêng về luật Hồng Đức trên trang trình bày kỹ hơn.
Nhưng khuôn mẫu vẫn có sức nặng thật. Hôn nhân sắp đặt, áp lực sinh con trai, định kiến với goá phụ tái giá, sự hạn chế học hành và thi cử đối với phụ nữ là những thực tế có thật trong xã hội cũ. Nhìn đời sống mềm hơn sách không có nghĩa xoá đi những ràng buộc ấy.
Phê phán tam tòng tứ đức đầu thế kỷ 20
Đầu thế kỷ 20, cùng với làn sóng tư tưởng mới, tam tòng tứ đức trở thành một trong những điểm bị phê phán mạnh nhất của lễ giáo. Ở Trung Hoa, phong trào Tân văn hoá và sự kiện Ngũ Tứ 1919 nêu vấn đề giải phóng phụ nữ cùng với phê phán lễ giáo nói chung. Truyện ngắn Nhật ký người điên của Lỗ Tấn năm 1918 dùng hình ảnh lễ giáo “ăn thịt người” là một biểu tượng của thời kỳ ấy.
Ở Việt Nam, các cuộc tranh luận về “nữ quyền” xuất hiện trên báo chí những năm 1920–1930, trong đó tờ Phụ nữ tân văn ra đời ở Sài Gòn năm 1929 là một diễn đàn quen thuộc. Các nhà nho duy tân trước đó đã chủ trương mở trường cho cả nữ giới. Phê phán thường tập trung vào tam tòng và chữ tiết, còn tứ đức được nhiều người đề nghị hiểu lại chứ không bỏ hẳn.
Những phê phán này là sự kiện lịch sử tư tưởng, gắn với nhu cầu hiện đại hoá xã hội thời ấy. Đọc chúng hôm nay, bạn có thể thấy cả sự xác đáng lẫn những chỗ cực đoan của một thời kỳ muốn đoạn tuyệt nhanh với quá khứ.
Hiểu tam tòng tứ đức hôm nay thế nào cho công bằng
Cách đọc ít thiên lệch nhất là tách ba lớp. Lớp văn bản gốc cho thấy tam tòng gắn với phép tang và chế độ dòng họ phụ hệ thời cổ. Lớp diễn giải hậu Nho và nhà nước phong kiến biến nó thành sự phục tùng suốt đời, có hệ quả thật đối với nhiều thế hệ phụ nữ. Lớp phê phán thế kỷ 20 chỉ ra những hệ quả ấy và đề xuất bình đẳng.
Với tam tòng, gần như không còn chỗ để áp dụng trong một xã hội mà pháp luật công nhận vợ chồng bình đẳng và phụ nữ có quyền tự quyết hôn nhân. Với tứ đức, nhiều người cho rằng có thể đọc lại thành những phẩm chất áp cho mọi người, nam cũng như nữ: làm việc chăm chỉ, giữ mình gọn gàng, nói năng có chừng mực, sống có đạo đức.
Khi dạy con hoặc viết bài về chủ đề này, bạn nên tránh hai thái cực: dùng tam tòng tứ đức để đánh giá con gái, con dâu theo khuôn cũ; hoặc coi mọi thứ từ sách lễ đều vô nghĩa. Hiểu được nó từ đâu tới và đã được dùng thế nào là bước đầu để tự quyết định giữ gì.
Câu hỏi thường gặp
Tam tòng có phải do Khổng Tử dạy không?
Không. Câu tam tòng nằm trong sách Nghi lễ, phần Tang phục, là một trong các sách lễ của Nho gia, không phải lời Khổng Tử trong Luận ngữ. Tứ đức có gốc từ Chu lễ và Lễ ký, được Ban Chiêu đời Đông Hán giảng giải chi tiết.
“Phu tử tòng tử” có nghĩa là mẹ phải nghe lời con trai?
Không hẳn. Trong văn cảnh sách lễ, câu này nói về việc người phụ nữ goá nương theo con trai trong hệ thống gia đình, dòng họ. Đạo hiếu của Nho giáo đòi con phải kính mẹ, nên khó hiểu vế này là mẹ phục tùng con.
Tứ đức gồm những gì?
Tứ đức gồm công, dung, ngôn, hạnh, tức phụ công, phụ dung, phụ ngôn, phụ đức trong sách cổ. Công là việc làm, dung là dáng vẻ, ngôn là lời nói, hạnh là nết na, đạo đức. Sách Hán xếp thứ tự là đức, ngôn, dung, công.
Ban Chiêu là ai?
Ban Chiêu là nữ học giả đời Đông Hán, em gái sử gia Ban Cố, từng tham gia hoàn thành bộ Hán thư. Bà soạn sách Nữ giới dạy phụ nữ, trong đó giảng giải tứ đức. Sách này có ảnh hưởng lớn tới giáo dục nữ giới ở Đông Á suốt nhiều thế kỷ.
Phụ nữ Việt Nam xưa có bị ràng buộc bởi tam tòng như phụ nữ Trung Hoa không?
Có ràng buộc, nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mức độ nhẹ hơn ở một số mặt, nhờ vai trò kinh tế của phụ nữ trong gia đình, tục lệ làng xã và một số quy định của luật thời Lê. Mức độ cũng thay đổi theo từng triều đại.
Có nên dạy con gái tứ đức hôm nay?
Nhiều gia đình chọn giữ ý tốt của tứ đức nhưng áp cho cả con trai lẫn con gái: chăm làm, gọn gàng, nói năng tử tế, sống có đạo đức. Điều nên tránh là dùng bốn chữ ấy để chấm điểm ngoại hình hay bắt con gái nhường nhịn vô điều kiện.