Ở làng xã Việt Nam, Nho giáo hiện diện qua những thiết chế cụ thể: văn chỉ hay văn từ để thờ Khổng Tử và các bậc khoa bảng của làng, hội tư văn của những người có học, chỗ ngồi danh dự cho người đỗ đạt ở đình, và những lệ làng do nhà nho soạn thảo. Đây là con đường để một học thuyết của triều đình đi vào đời sống hằng ngày của nông dân.
Bài này giải thích từng thiết chế làm gì, ai tham gia, và vì sao Nho giáo ở làng không bao giờ thay thế được tín ngưỡng thờ thần, đi chùa hay phong tục riêng của mỗi nơi. Phần hương ước như một loại văn bản và các tục lệ đi thi có ở những bài khác; ở đây chỉ bàn vai trò của Nho học trong cấu trúc làng.
Văn chỉ, văn từ: nơi thờ việc học của làng
Văn chỉ là một nền đất hoặc một khoảng sân có bệ thờ, thường đặt ở nơi cao ráo, thoáng đãng trong làng, dùng để tế Khổng Tử và các bậc tiên hiền. Nhiều nơi còn dựng bia khắc tên những người trong làng, trong tổng hay trong huyện đã đỗ đạt. Khi được dựng thêm nhà có mái, nơi này thường được gọi là văn từ. Ở cấp tỉnh, một số nơi có văn miếu riêng với quy mô lớn hơn.
Văn chỉ là phiên bản thu nhỏ của Văn Miếu ở kinh đô, mang ý nghĩa rằng việc học không chỉ là chuyện của triều đình mà là niềm tự hào của chính làng mình. Tên những người đỗ đạt được khắc lên bia ở văn chỉ là cách làng ghi công và khuyến khích con em học hành.
Ngày nay, nhiều văn chỉ đã bị mai một qua chiến tranh và thời gian, một số được các làng tu bổ lại như di tích. Ở một số vùng, văn chỉ còn được dùng cho các buổi lễ của họ, của làng vào dịp đầu năm, gắn với việc khen thưởng con cháu học giỏi. Khi đến thăm, bạn nên chú ý đến các tấm bia nếu còn: chúng là nguồn tư liệu quý về lịch sử khoa bảng của địa phương, ghi những tên người mà chính sử nhiều khi không nhắc tới. Đọc bia cần người thạo chữ Hán, nên nếu quan tâm, hãy tìm các bản dịch đã được công bố hoặc hỏi người làm công tác bảo tồn ở địa phương.
Hội tư văn: tổ chức của người có học trong làng
Hội tư văn là tổ chức tập hợp những người có học trong làng, trong tổng hay trong huyện: người đỗ đạt, người từng đi thi, thầy đồ, đôi khi cả những người có chữ dù không đỗ. Hội lo việc tế lễ ở văn chỉ vào những dịp nhất định trong năm, giữ gìn nề nếp học hành và giải quyết những việc liên quan đến chữ nghĩa của cộng đồng.
Trong làng, hội tư văn có vị thế riêng, khác với hội của các chức dịch lo việc hành chính, thuế khoá. Thành viên hội tư văn thường được ngồi ở những vị trí danh dự trong các dịp hội họp ở đình. Điều này thể hiện quan niệm Nho giáo coi người có học là tầng lớp cao nhất trong bốn loại dân: sĩ, nông, công, thương.
Hội tư văn cũng là nơi những người có học trong làng gặp nhau, đàm đạo văn chương, bàn việc dạy con em. Ở nhiều nơi, chính hội tư văn đứng ra kêu gọi đóng góp để tu sửa văn chỉ, dựng bia, hoặc trích ruộng cho việc học. Khi khoa cử bị bãi bỏ đầu thế kỷ 20, nhiều hội tư văn dần tan rã vì không còn người đỗ đạt mới bổ sung.
Người đỗ đạt và ngôi thứ ở đình
Ngôi thứ, tức thứ bậc chỗ ngồi và quyền lợi của mỗi người trong các dịp hội họp ở đình, là nơi thấy rõ ảnh hưởng của Nho giáo lên làng. Một số điểm thường gặp:
- Người đỗ đạt, nhất là đại khoa, thường được xếp vào hàng ngồi trên cao nhất, có khi trên cả những người lớn tuổi hơn hoặc giàu có hơn. Đây là cách làng tôn vinh việc học.
- Những người có phẩm hàm do triều đình ban, kể cả người làm quan về hưu, cũng có chỗ ngồi danh dự theo thứ bậc của mình.
- Bên cạnh hệ thống dựa trên học vị và quan chức, nhiều làng vẫn giữ hệ thống dựa trên tuổi tác. Hai hệ thống này đan xen, có khi tranh chấp, tạo ra những lệ rất phức tạp ở từng làng.
- Câu "nhất sĩ nhì nông" phản ánh thứ bậc lý tưởng của Nho giáo; vế sau của câu tục ngữ, "hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ", lại cho thấy cái nhìn tỉnh táo, có phần hài hước của người dân về giá trị thực tế của chữ nghĩa khi đói.
- Lệ khao vọng, tức mở tiệc mời làng khi đỗ đạt hay được phong chức, giúp người đỗ được công nhận chỗ ngồi mới, nhưng cũng là gánh nặng tài chính cho nhiều gia đình và từng bị các nhà nho đổi mới đầu thế kỷ 20 phê phán.
Ngôi thứ cho thấy làng xã tiếp nhận Nho giáo theo cách riêng: tôn trọng người có học, nhưng không bỏ đi những thứ bậc truyền thống của chính mình.
Nhà nho soạn lệ làng và việc giáo hoá
Lệ làng thành văn thường do những người có chữ trong làng soạn thảo, và họ phần lớn là nhà nho. Vì vậy, nhiều điều khoản mang tinh thần Nho giáo: khuyến khích học hành, đề cao hiếu thảo, quy định lễ nghi trong cưới hỏi, ma chay, trừng phạt hành vi bất kính với cha mẹ, với người già. Nhưng các điều khoản về ruộng đất, phân chia lao động, bảo vệ mùa màng thì lại phản ánh nhu cầu thực tế của làng hơn là kinh điển.
Triều đình các thời cũng muốn dùng làng để giáo hoá dân theo Nho giáo. Có những thời vua ban các điều huấn dụ để đọc cho dân nghe ở làng, kêu gọi giữ đạo hiếu, chăm làm ăn, tránh kiện tụng. Mức độ hiệu quả của những văn bản này khó đánh giá; sử liệu cho biết chúng tồn tại, nhưng ít cho biết người nông dân nghĩ gì khi nghe.
Câu "phép vua thua lệ làng" nhắc rằng làng có quyền tự quản đáng kể. Nhà nho trong làng vì thế đứng ở vị trí trung gian: một mặt là người mang chuẩn mực của triều đình, mặt khác là thành viên của làng, phải tôn trọng tập quán của chính cộng đồng mình.
Những việc khác của nhà nho trong làng
Dạy học. Phần lớn nhà nho không đỗ đạt hoặc không ra làm quan trở về làng mở lớp dạy trẻ. Lớp học thường ở nhà thầy hoặc ở nhà một gia đình khá giả, học trò đóng góp tuỳ sức. Đây là kênh phổ biến chữ nghĩa rộng nhất ở nông thôn.
Viết thay cho người không biết chữ. Làng cần người viết đơn từ, khế ước mua bán ruộng đất, văn bản giao dịch. Người có chữ trong làng thường đảm nhận việc này, đôi khi kèm vai trò làm chứng, hoà giải.
Giữ sổ sách và văn bản của làng. Hương ước, sổ đinh, sổ điền, các văn bản liên quan đến đình, chùa thường do người có chữ giữ hoặc chép lại. Nhờ vậy nhiều tư liệu làng xã còn lưu đến hôm nay.
Làm thầy thuốc, thầy địa phương. Một số nhà nho học thêm y thuật, xem sách thuốc, chữa bệnh cho dân làng. Quan niệm quen thuộc "không làm được vị quan giỏi giúp nước thì làm thầy thuốc giỏi giúp người" thường được nhắc như lý tưởng của nhà nho không ra làm quan. Phần này có bài riêng trong chuyên mục danh nho.
Học điền và truyền thống khuyến học
Nhiều làng có tục dành ra một phần ruộng công gọi là học điền, hoa lợi từ đó dùng cho việc học: trả công thầy, giúp học trò nghèo, thưởng người đỗ đạt, tu sửa văn chỉ. Hình thức và quy mô khác nhau tuỳ làng, tuỳ thời. Một số dòng họ cũng có ruộng riêng cho việc khuyến học con cháu.
Truyền thống này là một trong những dấu ấn rõ nhất của Nho giáo ở làng. Nó cho thấy làng không chỉ tôn vinh người đỗ đạt sau khi đỗ, mà còn đầu tư cho việc học từ trước. Các làng khoa bảng nổi tiếng ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi có nhiều người đỗ đạt qua nhiều thế kỷ, thường có truyền thống khuyến học rất bền.
Ngày nay, các quỹ khuyến học của làng, của họ, việc khen thưởng con em đỗ đại học, học giỏi trong các buổi họp họ đầu năm có thể xem là sự tiếp nối của truyền thống này dưới hình thức mới. Khác biệt lớn là ngày nay người được khuyến khích không chỉ là con trai đi thi chữ, mà là mọi em học sinh, cả trai lẫn gái, ở mọi ngành học. Điều đáng giữ từ truyền thống cũ có lẽ là tinh thần cộng đồng cùng lo cho việc học; điều nên bỏ là lối khoe khoang, so bì danh vọng mà chính các nhà nho đổi mới đầu thế kỷ 20 đã phê phán trong tục khao vọng.
Thiết chế Nho giáo ở làng: ngày xưa và hôm nay
Bảng dưới đây đặt các thiết chế cũ cạnh những gì còn lại hoặc biến đổi ngày nay. Mỗi làng một khác, đây chỉ là xu hướng chung.
| Thiết chế | Vai trò ngày xưa | Hôm nay |
|---|---|---|
| Văn chỉ, văn từ | Tế Khổng Tử, ghi tên người đỗ đạt | Một số được tu bổ như di tích, nhiều nơi đã mất |
| Hội tư văn | Tập hợp người có học, lo tế lễ, khuyến học | Hầu như không còn; vai trò khuyến học chuyển sang hội khuyến học |
| Ngôi thứ theo học vị | Người đỗ đạt ngồi chiếu trên | Còn dấu vết trong cách mời, cách xếp chỗ ở một số lễ hội |
| Học điền | Hoa lợi nuôi việc học | Quỹ khuyến học của làng, của họ |
| Lệ khao vọng | Công nhận vị trí mới | Tiệc mừng đỗ đạt trong gia đình, quy mô nhỏ hơn |
Nhìn bảng, có thể thấy cái "hồn" khuyến học vẫn còn, trong khi phần thứ bậc và lễ nghi gắn với khoa cử phần lớn đã mất cùng với sự kết thúc của nền thi cử chữ Hán.
Câu hỏi thường gặp
Văn chỉ khác Văn Miếu thế nào?
Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử cấp nhà nước hoặc cấp tỉnh, có quy mô lớn, nhiều lớp kiến trúc. Văn chỉ là phiên bản ở cấp làng, tổng hoặc huyện, thường chỉ là một nền đất có bệ thờ và bia ghi tên người đỗ đạt. Khi có thêm nhà có mái, nơi này thường được gọi là văn từ.
Hội tư văn còn tồn tại không?
Phần lớn các hội tư văn đã tan rã sau khi khoa cử chữ Hán bị bãi bỏ đầu thế kỷ 20, vì không còn người đỗ đạt mới bổ sung. Vai trò khuyến học của nó ngày nay phần nào được tiếp nối bởi các hội khuyến học, quỹ khuyến học của làng, của dòng họ.
"Nhất sĩ nhì nông" có nghĩa là gì?
Câu này phản ánh thứ bậc tứ dân theo quan niệm Nho giáo: sĩ (người có học) đứng đầu, rồi đến nông, công, thương. Vế sau của câu tục ngữ, "hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ", lại cho thấy người dân nhìn nhận thực tế rằng khi đói kém, người làm ra lúa gạo mới quan trọng hơn.
Học điền là gì?
Học điền là phần ruộng công mà nhiều làng dành riêng, dùng hoa lợi để lo cho việc học: trả công thầy, giúp học trò nghèo, thưởng người đỗ đạt, tu sửa văn chỉ. Quy mô và cách quản lý khác nhau tuỳ từng làng, từng thời kỳ.
Vì sao lệ khao vọng bị phê phán?
Vì người đỗ đạt hoặc được phong chức phải mở tiệc lớn mời cả làng, có gia đình phải bán ruộng, vay nợ để khao. Các nhà nho đổi mới đầu thế kỷ 20 coi đây là hủ tục làm nghèo dân, kêu gọi bỏ hoặc giảm bớt.
Có thể tìm tư liệu về văn chỉ làng mình ở đâu?
Bạn có thể hỏi ban quản lý di tích hoặc người cao tuổi trong làng, tìm trong các sách địa chí của tỉnh, các công trình sưu tầm văn bia đã được công bố. Nếu bia còn nguyên, nên nhờ người thạo chữ Hán đọc và đối chiếu với các bản dịch đã có.