Nguyễn Đình Chiểu (1822–1888) là nhà nho Nam Bộ đỗ tú tài, bị mù từ khi còn trẻ, sống bằng nghề dạy học và bốc thuốc, dùng truyện thơ Nôm như Lục Vân Tiên để giảng đạo làm người theo Nho giáo: trung, hiếu, tiết, nghĩa, thấy việc phải thì làm. Người đương thời gọi ông là Đồ Chiểu, tức ông đồ Chiểu, một danh xưng nói đúng vai trò chính của ông trong đời sống: người thầy.
Bài này không phân tích nghệ thuật Lục Vân Tiên hay Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (đó là việc của các trang văn học), cũng không kể chi tiết thời cuộc Nam Kỳ cuối thế kỷ 19. Trọng tâm là phần Nho học: ông hiểu đạo làm người ra sao, vì sao chọn văn Nôm để chở đạo, và nét riêng của Nho giáo khi về với người dân Nam Bộ.
Một ông đồ, không phải một ông quan
Nguyễn Đình Chiểu sinh ở vùng Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), đỗ tú tài khoảng năm 1843. Trên đường theo đuổi khoa cử, ông gặp tang mẹ, rồi ốm nặng và mù cả hai mắt. Con đường làm quan khép lại khi ông còn trẻ. Ông về Gia Định mở trường dạy học, đồng thời học và làm nghề thuốc. Khi thời cuộc biến động, ông dời về Cần Giuộc rồi Ba Tri (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long sau sắp xếp năm 2025) và sống ở đó đến cuối đời.
Hình mẫu nhà nho thành danh thường gắn với bảng vàng, chức tước. Nguyễn Đình Chiểu thuộc mẫu khác, rất phổ biến trong thực tế: nhà nho đỗ thấp hoặc không đỗ, ở làng, sống bằng nghề dạy chữ, xem bệnh, viết văn cho người trong vùng. Lớp người này mới là người đem Nho học đến với số đông, vì học trò của họ là con em nông dân, thợ thuyền, chứ không phải giới quan lại.
Hoàn cảnh mù loà làm ông phải đọc thuộc, đọc nhẩm, dạy bằng lời, và sáng tác bằng cách đọc cho người khác chép. Điều đó cũng giải thích một phần vì sao ông chọn thể thơ Nôm lục bát dễ thuộc, dễ truyền miệng: đạo lý phải vào được tai người nghe trước khi vào mắt người đọc.
Đạo làm người trong Lục Vân Tiên nhìn từ kinh điển
Mở đầu bằng trung hiếu, tiết hạnh. Phần mở Lục Vân Tiên có câu quen thuộc: "Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh là câu trau mình." Đây là chuẩn mực Nho giáo chính thống, phân vai rõ cho nam và nữ. Hôm nay đọc câu này cần đặt đúng thời: nó phản ánh luân lý xã hội cũ, phần phân vai giới không còn là chuẩn, nhưng tinh thần sống có đạo, giữ mình vẫn là cốt lõi.
Thấy việc nghĩa thì làm. Đoạn Vân Tiên đánh cướp cứu người có câu: "Nhớ câu kiến nghĩa bất vi, Làm người thế ấy cũng phi anh hùng." "Kiến nghĩa bất vi" lấy từ Luận ngữ – Vi chính, nguyên ý: thấy việc nghĩa mà không làm là không có dũng. Nguyễn Đình Chiểu biến một câu kinh điển thành hành động của nhân vật, để người nghe nhớ bằng câu chuyện.
Ân nghĩa và chữ tín. Truyện xoay quanh những người giữ lời hứa, đền ơn, trung thành với nhau và những kẻ bội ước, phụ nghĩa. Đây là ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) được kể thành chuyện đời, với kết cục người ngay được đền đáp, kẻ gian bị trừng trị.
Thầy trò và cha con. Quan hệ Vân Tiên với thầy, với cha mẹ, cách nhân vật đi thi, chịu tang, đều theo nếp Nho. Người nghe truyện thời ấy học luôn cả lễ nghi qua từng tình tiết.
Văn để chở đạo: vì sao ông chọn truyện thơ Nôm
Nho gia có quan niệm "văn dĩ tải đạo", văn chương để chở đạo lý. Nhiều nhà nho chở đạo bằng văn chữ Hán, một thứ chữ chỉ người học mới đọc được. Nguyễn Đình Chiểu chọn chữ Nôm và thể lục bát, dùng lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ, để đạo lý đến được người không biết chữ qua lối nói thơ, kể truyện.
Kết quả là Lục Vân Tiên được người Nam Bộ thuộc lòng, nói thơ trong các buổi sinh hoạt, đặt tên con theo nhân vật. Đó là một con đường lan truyền Nho học không qua trường lớp: đạo lý đi vào đời sống bằng câu chuyện, bằng nhân vật để thương để ghét. Nhiều nhà nghiên cứu coi đây là dấu hiệu của một thứ Nho giáo bình dân, gần dân, đặc trưng cho vùng đất mới phương Nam.
Cũng cần thấy giới hạn của lối chở đạo này. Truyện thơ phân thiện ác rõ ràng, có tính răn dạy cao, nên đôi khi bị chê là đơn giản hoá con người. Nhưng với mục đích của một ông đồ muốn dạy người qua câu chuyện, sự rõ ràng ấy là có chủ ý. Phần đánh giá nghệ thuật, bạn nên đọc thêm các công trình văn học sử.
Ngư Tiều y thuật vấn đáp: Nho học gặp nghề thuốc
Ngoài truyện thơ, Nguyễn Đình Chiểu còn viết Ngư Tiều y thuật vấn đáp, một tác phẩm dài dưới dạng hỏi đáp giữa ông chài, người tiều phu và thầy thuốc. Ở góc Nho học, tác phẩm đáng chú ý ở mấy điểm:
- Nghề thuốc như một cách hành đạo. Không làm quan để giúp dân thì làm thầy thuốc để cứu người; quan niệm này có từ lâu trong giới nho sĩ và ông thể hiện nó bằng chính cuộc đời mình.
- Đạo đức người thầy thuốc. Tác phẩm dành nhiều chỗ cho y đức: không vì tiền mà chữa, không vì thế lực mà theo, giữ lòng nhân với người bệnh. Đây là ngũ thường áp vào một nghề cụ thể.
- Hình thức vấn đáp. Lối hỏi đáp gợi nhớ cách Luận ngữ ghi lời thầy trò, được dùng để truyền cả kiến thức lẫn quan điểm sống.
- Không đọc như sách chữa bệnh. Phần kiến thức y học trong tác phẩm thuộc y học cổ truyền của thế kỷ 19. Người đọc hôm nay đọc để hiểu tư tưởng, không dùng để tự chữa bệnh; việc khám chữa phải theo thầy thuốc có chuyên môn.
Đặt cạnh Lục Vân Tiên, tác phẩm này cho thấy Nguyễn Đình Chiểu nhìn Nho học như một đạo sống trọn vẹn, có thể đi vào việc dạy chữ, việc chữa bệnh, việc viết văn, chứ không chỉ là con đường thi cử.
Nét Nam Bộ trong Nho học của Đồ Chiểu
Nam Bộ là vùng đất khai phá muộn, không có hệ thống làng khoa bảng dày đặc như đồng bằng Bắc Bộ. Nho học ở đây ít nặng về học vị, chú trọng đạo nghĩa, cách cư xử giữa người với người. Các nhà nghiên cứu văn hoá Nam Bộ thường nhắc tinh thần trọng nghĩa khinh tài, giữ lời hứa, sẵn lòng giúp người hoạn nạn, và coi Nguyễn Đình Chiểu là người diễn đạt rõ nhất tinh thần ấy bằng văn chương.
Điểm này giải thích vì sao ở Nam Bộ, hình ảnh "ông đồ" gắn với lòng tin của cả xóm làng: người đọc văn tế, viết đơn từ, xem mạch bốc thuốc, giảng truyện. Nhà nho kiểu ấy không cao xa, nhưng là gạch nối giữa sách vở và đời sống. Nguyễn Đình Chiểu, với cả ba vai thầy đồ, thầy thuốc, nhà thơ, là ví dụ tiêu biểu.
Một tác phẩm khác của ông, Dương Từ – Hà Mậu, có nội dung bàn về các đạo và đề cao Nho giáo, phản ánh quan điểm của một nhà nho thế kỷ 19 về các tôn giáo cùng thời. Khi đọc, nên coi đó là tư liệu về cách nghĩ của tác giả trong bối cảnh của ông, không phải nhận định về các tôn giáo hôm nay.
Đọc Nguyễn Đình Chiểu cho đúng: điều nên và không nên
Ông là tác giả quen thuộc trong nhà trường nên dễ bị đọc theo khuôn. Bảng dưới gợi vài điều cần cân nhắc khi giảng hoặc viết về ông:
| Nên | Không nên |
|---|---|
| Đặt các chuẩn mực trung hiếu, tiết hạnh vào bối cảnh xã hội thế kỷ 19 | Dùng câu "gái thời tiết hạnh" làm chuẩn ứng xử cho phụ nữ hôm nay |
| Lần ngược các câu như "kiến nghĩa bất vi" về kinh điển | Coi đó là câu do Nguyễn Đình Chiểu đặt ra |
| Nhìn ông như một ông đồ, thầy thuốc làng | Chỉ nhìn ông qua vài tác phẩm trong sách giáo khoa |
| Phân biệt tư liệu tiểu sử với truyện kể về ông | Thêm thắt giai thoại cho cảm động rồi trình bày như sử |
| Đọc Ngư Tiều y thuật vấn đáp như tư liệu tư tưởng | Dùng các phương thuốc trong sách để tự chữa bệnh |
Những điều trên không nhằm "hạ thấp" hay "nâng cao" ông, mà để giữ cho hình ảnh một nhà nho có thật, sống giữa đời thường, không bị phủ kín bởi khẩu hiệu.
Giá trị còn lại cho hôm nay
Trước hết là một cách nhìn Nho học từ dưới lên. Sách vở thường kể Nho giáo qua các triều đại, khoa thi, bia đá. Đồ Chiểu nhắc rằng đối với phần đông người Việt thời xưa, Nho giáo đến qua ông đồ trong xóm, qua câu thơ nói trong đêm, qua người thầy thuốc biết chữ. Muốn hiểu Nho giáo đã thấm vào đời sống thế nào, phải nhìn cả lớp người ấy.
Tinh thần "thấy việc nghĩa thì làm" là phần dễ đi vào đời sống hôm nay nhất. Nó không đòi hỏi học vị hay địa vị, chỉ đòi một lựa chọn đúng khi đứng trước việc phải. Đây cũng là cách Nho học sống trong người dân thường: không qua sách vở, mà qua những tình huống cụ thể.
Hình ảnh một người mù vẫn dạy học, chữa bệnh, viết văn suốt đời cũng là một bài học về học tập và ý chí, phù hợp để kể cho học sinh. Chỉ nên tránh biến nó thành câu chuyện bi tráng quá mức; sự thật giản dị về một ông đồ làm việc tận tụy đã đủ sức thuyết phục.
Nếu đưa học sinh đến khu di tích mộ và đền thờ ông ở Ba Tri, bạn có thể bắt đầu bằng câu hỏi: "Một người không đỗ cao, không làm quan, vì sao được nhớ đến hơn nhiều vị quan?" Câu trả lời sẽ dẫn các em tới chính điều Nho học đề cao: giá trị của một người đo bằng đạo làm người, không bằng chức tước.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Nguyễn Đình Chiểu được gọi là Đồ Chiểu?
"Đồ" là cách gọi người dạy chữ Nho ở làng, tức ông đồ. Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học suốt đời sau khi bị mù và không thể tiếp tục khoa cử, nên người đương thời gọi ông là Đồ Chiểu. Danh xưng này nói đúng vai trò người thầy của ông.
Câu "kiến nghĩa bất vi" có nghĩa là gì?
Câu đầy đủ trong Luận ngữ, thiên Vi chính, là "kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã", nghĩa là thấy việc nghĩa mà không làm là không có dũng khí. Nguyễn Đình Chiểu đưa ý này vào Lục Vân Tiên để nói rằng người không ra tay khi gặp việc phải thì không đáng gọi là anh hùng.
Lục Vân Tiên có phải sách dạy Nho giáo không?
Lục Vân Tiên là truyện thơ, tác phẩm văn học, nhưng mang mục đích răn dạy rõ rệt và chứa đầy chuẩn mực Nho giáo. Có thể coi nó là một cách phổ biến đạo Nho bằng văn chương bình dân, khác với sách kinh điển hay sách giáo khoa Nho học.
Nguyễn Đình Chiểu có làm quan không?
Không. Ông đỗ tú tài, chưa kịp thi cao hơn thì gặp tang mẹ, bị mù, nên không đi theo đường làm quan. Ông sống bằng nghề dạy học và làm thuốc. Về sau, dù được người Pháp mời mọc, ông vẫn giữ thái độ không hợp tác, điều được nhiều tài liệu ghi nhận.
Ngư Tiều y thuật vấn đáp có giá trị gì hôm nay?
Tác phẩm có giá trị như tư liệu về y đức và quan niệm của nhà nho về nghề thuốc, đồng thời phản ánh y học cổ truyền thế kỷ 19. Nó không phải sách hướng dẫn chữa bệnh hôm nay. Nếu có vấn đề sức khoẻ, bạn cần đến cơ sở y tế và thầy thuốc có chuyên môn.
Quê và mộ Nguyễn Đình Chiểu ở đâu?
Ông sinh ở vùng Gia Định, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Cuối đời ông sống và mất ở Ba Tri, thuộc tỉnh Bến Tre trước đây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long sau sắp xếp năm 2025. Khu mộ và đền thờ ông ở đó là di tích được nhiều người đến thăm.