Tứ thư Ngũ kinh là tên gọi chung chín bộ sách nền của Nho học. Tứ thư gồm Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử. Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Người Việt nghe cụm từ này từ bài học lịch sử về khoa cử, từ câu "sôi kinh nấu sử", từ chuyện ông bà kể về những người học chữ Nho thuộc lòng cả bộ sách. Nhưng ít người biết từng bộ thực ra là gì, ai viết, và vì sao lại gom thành hai nhóm bốn và năm.
Bài này đi qua chín bộ sách ở mức người mới cần biết: nội dung chính, nguồn gốc theo những gì giới nghiên cứu khá thống nhất, và chỗ còn tranh luận. Mục đích là để bạn cầm một cuốn Luận ngữ hay Kinh Thi lên mà biết mình đang đọc thứ gì, đọc nó trong dòng sách nào, thay vì chỉ nghe tên như một khối kinh điển nặng nề.
Tứ thư và Ngũ kinh: hai nhóm sách ra đời ở hai thời khác nhau
Điều đầu tiên nên biết là hai nhóm này không được gom cùng một lúc. Ngũ kinh là nhóm cũ hơn. Các bộ sách trong đó phần lớn hình thành trước Khổng Tử hoặc cùng thời ông, rồi được truyền dạy trong học phái của ông. Đến đời Hán, triều đình đặt chức bác sĩ chuyên dạy từng kinh, và cách gọi Ngũ kinh trở thành chuẩn từ đó. Trước nữa, sách cũ còn nhắc tới Lục kinh, tức thêm Nhạc kinh, nhưng Nhạc kinh không còn truyền lại.
Tứ thư là nhóm được gom muộn hơn nhiều, vào đời Tống. Chu Hy, nhà Nho nổi tiếng thế kỷ 12, chọn hai thiên Đại học và Trung dung vốn nằm trong sách Lễ ký, ghép với Luận ngữ và Mạnh Tử, viết chú giải cho cả bốn. Bộ chú giải ấy về sau được các triều đại chọn làm sách chuẩn cho thi cử, nên cụm từ Tứ thư mới phổ biến như ngày nay.
Vì vậy khi nói "Tứ thư Ngũ kinh", người xưa không ngụ ý chín bộ sách cùng một tầng. Ngũ kinh mang tính cổ điển, gồm thơ ca, văn kiện, lễ chế, sử biên niên. Tứ thư gần với lời giảng của Khổng Tử và các đời học trò, dễ vào hơn với người mới. Trong lối học truyền thống ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, học trò thường học Tứ thư trước rồi mới đi sâu vào một hay vài bộ kinh.
Bảng tóm tắt chín bộ sách
Bảng dưới gom mỗi bộ vào một dòng. Phần "người soạn" ghi theo cách hiểu phổ biến; nhiều chỗ chỉ là truyền thuyết hoặc còn tranh luận, bài sẽ nói rõ ở các mục sau.
| Bộ sách | Nhóm | Nội dung chính | Người soạn theo truyền thống |
|---|---|---|---|
| Luận ngữ | Tứ thư | Lời nói, đối đáp của Khổng Tử với học trò và người đương thời, chia 20 thiên | Học trò và học trò của học trò ghi chép, biên tập |
| Mạnh Tử | Tứ thư | Đối đáp, tranh luận của Mạnh Tử với vua chư hầu và các học phái khác, 7 thiên | Mạnh Tử cùng học trò |
| Đại học | Tứ thư | Con đường học để tu thân rồi đến việc nhà, việc nước | Vốn là một thiên của Lễ ký; Chu Hy cho phần kinh là lời Khổng Tử do Tăng Tử thuật |
| Trung dung | Tứ thư | Bàn về tính, đạo, sự vừa phải đúng mực và chữ thành | Vốn là một thiên của Lễ ký; tương truyền do Tử Tư soạn |
| Kinh Thi | Ngũ kinh | Hơn ba trăm bài thơ ca dân gian và nhạc ca triều đình, tông miếu | Tương truyền Khổng Tử san định |
| Kinh Thư | Ngũ kinh | Văn kiện, lời huấn dụ, lời thề của các đời vua và quan thượng cổ | Tương truyền Khổng Tử biên tập |
| Kinh Lễ | Ngũ kinh | Nghi thức, lễ chế và lời bàn về ý nghĩa của lễ | Nhiều đời Nho sĩ; bản Lễ ký thường dùng do Đới Thánh đời Hán biên |
| Kinh Dịch | Ngũ kinh | Sách bói toán cổ về sau được giải thích thành triết lý | Nhiều tầng tác giả theo truyền thuyết |
| Kinh Xuân Thu | Ngũ kinh | Sử biên niên nước Lỗ, rất vắn tắt | Tương truyền Khổng Tử chỉnh lý |
Nếu chỉ nhớ một điều từ bảng này, hãy nhớ rằng Tứ thư là sách để học cách làm người theo Nho gia, còn Ngũ kinh là kho văn bản cổ mà Nho gia coi là gốc của văn hoá Chu.
Bốn cuốn Tứ thư: mỗi cuốn một vai
Luận ngữ là sách gần Khổng Tử nhất. Sách không phải một bài giảng liền mạch mà là tập hợp những đoạn ngắn, có đoạn chỉ một câu. Người đọc gặp Khổng Tử như một người thầy đang nói chuyện: khi khen học trò, khi trách, khi tự nhận mình chưa làm được điều gì. Đây là cửa vào tự nhiên nhất cho người mới.
Mạnh Tử dài hơn và có lý lẽ hơn. Mạnh Tử sống sau Khổng Tử khoảng hơn một thế kỷ, trong thời các nước tranh nhau. Sách của ông có những cuộc đối đáp dài, lập luận chặt, nhiều ví von dễ nhớ. Đọc Mạnh Tử, bạn thấy Nho gia phải tranh luận với các học phái khác ra sao.
Đại học là sách dàn ý. Chỉ dài vài trang, Đại học đưa ra một sơ đồ từ việc tìm hiểu sự vật, làm cho ý thành thật, giữ lòng ngay thẳng, đến sửa mình, lo việc nhà, việc nước. Chu Hy khuyên đọc sách này đầu tiên vì nó cho cái khung để đặt các sách khác vào.
Trung dung là sách khó nhất trong bốn. Sách bàn về những khái niệm trừu tượng như tính, đạo, thành. Nhiều người hiểu "trung dung" là ba phải, đứng giữa cho yên chuyện, nhưng trong sách này chữ trung chỉ sự đúng mực, không lệch, còn chữ dung chỉ cái thường hằng, dùng được hằng ngày.
Năm bộ Ngũ kinh: thơ, văn kiện, lễ, Dịch và sử
Kinh Thi là tuyển tập thơ ca cổ nhất của Trung Hoa còn lại. Theo bản truyền đời nay, sách có 305 bài, chia làm ba phần Phong, Nhã, Tụng. Phần Phong gồm dân ca của nhiều vùng, nhiều bài nói về tình yêu, lao dịch, chiến tranh, rất đời thường.
Kinh Thư còn gọi là Thượng thư. Sách gom văn kiện chính sự: lời vua ban, lời quan dâng lên vua, lời thề trước khi ra trận. Văn của Kinh Thư cổ và khó; một phần của bản truyền đời nay đã bị các học giả đời Thanh chứng minh là được soạn muộn.
Kinh Lễ không phải một cuốn duy nhất. Truyền thống Nho học nói đến ba bộ Lễ: Chu lễ, Nghi lễ và Lễ ký. Trong khoa cử về sau, cuốn được học nhiều nhất là Lễ ký, tập hợp các bài viết về ý nghĩa và cách làm lễ.
Kinh Dịch là bộ đặc biệt nhất. Phần lõi là sáu mươi tư quẻ với lời đoán ngắn, phần truyện giải thích về sau được Nho gia dùng để bàn triết lý. Site này chỉ nhắc Kinh Dịch như một trong Ngũ kinh; phần quẻ, hào, âm dương thuộc một chuyên đề riêng.
Kinh Xuân Thu là sử nước Lỗ. Mỗi năm vài dòng, rất cô đọng. Người đọc đời sau thường đọc kèm các sách truyện giải thích, nổi tiếng nhất là Tả truyện. Tên gọi thời kỳ Xuân Thu trong lịch sử Trung Hoa chính là lấy từ tên bộ sử này.
Từ Lục kinh, Ngũ kinh đến Thập tam kinh: danh sách kinh điển thay đổi qua các thời
Danh sách kinh điển của Nho gia không đứng yên. Thời Chiến Quốc, sách vở đã nhắc tới sáu môn: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Nhạc kinh không truyền lại, có ý kiến còn cho rằng nhạc vốn gắn với thơ và lễ chứ không thành một cuốn sách riêng. Đến đời Hán, triều đình lập chức bác sĩ cho năm kinh, từ đó cách gọi Ngũ kinh thành chuẩn.
Sau đó danh sách nở dần. Đời Đường có các bộ "chính nghĩa" làm chuẩn cho thi cử, và ba sách truyện của Xuân Thu, ba bộ Lễ được tính riêng. Đến đời Tống, người ta quen gọi Thập tam kinh, tức mười ba bộ: Dịch, Thư, Thi, Chu lễ, Nghi lễ, Lễ ký, Tả truyện, Công Dương truyện, Cốc Lương truyện, Luận ngữ, Hiếu kinh, Nhĩ nhã và Mạnh Tử. Cũng trong đời Tống, Chu Hy gom Tứ thư.
Biết điều này giúp bạn khỏi bối rối khi gặp những con số khác nhau trong sách. Một tài liệu nói "Lục kinh", một tài liệu khác nói "Thập tam kinh", không phải ai sai. Họ chỉ đang nói về danh sách kinh điển ở các thời khác nhau. Với người Việt, cụm "Tứ thư Ngũ kinh" quen nhất vì đó là bộ sách của các khoa thi Nho học thời Lê, thời Nguyễn.
Tứ thư Ngũ kinh ở Việt Nam: sách học, sách thi và vốn chữ
Ở Việt Nam thời quân chủ, Tứ thư Ngũ kinh là chương trình học chính của người theo đường khoa cử. Học trò bắt đầu bằng các sách nhập môn như Tam tự kinh, rồi lên Tứ thư, sau đó chọn học thêm các bộ kinh. Đề thi kinh nghĩa trong các kỳ thi lấy câu từ những sách này để thí sinh giảng giải, cho nên thuộc sách và thuộc cả lời chú giải là điều bắt buộc.
Ảnh hưởng của chín bộ sách lan rộng ra ngoài trường thi. Rất nhiều từ Hán Việt thông dụng, nhiều thành ngữ, cách đặt tên người, tên làng, câu đối ở đình chùa đều lấy chữ từ đây. Chu Văn An đời Trần được sử ghi là có soạn sách Tứ thư thuyết ước, nay đã thất truyền. Lê Quý Đôn đời Lê trung hưng để lại sách Thư kinh diễn nghĩa giảng Kinh Thư. Đó là dấu vết cho thấy các nhà Nho Việt không chỉ chép sách mà còn tự giảng giải theo cách hiểu của mình.
Hôm nay, đọc Tứ thư Ngũ kinh không còn là chuyện thi cử. Người đọc tìm đến các sách này để hiểu gốc của những giá trị còn trong gia đình Việt, để giảng cho con một câu Luận ngữ trong sách giáo khoa, hay đơn giản vì muốn đọc một bộ sách đã nuôi tư duy của người xưa suốt nhiều thế kỷ. Các bài khác trong chuyên mục này sẽ đi vào từng bộ và cách chọn bản dịch.
Những hiểu lầm thường gặp về Tứ thư Ngũ kinh
Khi nghe nhắc tới chín bộ sách này, người mới hay mang theo vài ý nghĩ chưa đúng. Danh sách dưới giúp bạn gỡ dần:
- "Khổng Tử viết cả Tứ thư Ngũ kinh." Không đúng. Khổng Tử không tự tay viết Luận ngữ; học trò ghi lại. Mạnh Tử, Đại học, Trung dung ra đời sau ông. Với Ngũ kinh, truyền thống nói ông san định, chỉnh lý, nhưng mức độ can thiệp thật sự là điều giới nghiên cứu còn bàn.
- "Ngũ kinh là sách dạy đạo đức." Chỉ đúng một phần. Kinh Thi là thơ ca, Kinh Xuân Thu là sử, Kinh Dịch gốc là sách bói. Chúng thành sách dạy đạo đức chủ yếu nhờ cách Nho gia đời sau chú giải.
- "Tứ thư có từ thời Khổng Tử." Tên gọi và việc gom bốn cuốn là việc của đời Tống, hơn một nghìn năm sau Khổng Tử.
- "Minh tâm bảo giám, Tam tự kinh cũng là kinh điển." Đây là sách nhập môn, sách tuyển hay sách khuyên đời, không nằm trong danh sách kinh điển chính thức.
- "Đọc bản dịch là đủ hiểu." Bản dịch giúp bạn vào sách, nhưng mỗi dịch giả chọn một cách hiểu. Đọc kèm nguyên văn, phiên âm và chú giải sẽ thấy câu sách nhiều tầng nghĩa hơn bạn nghĩ.
Giữ những điều này trong đầu, bạn sẽ đọc kinh điển với thái độ tò mò của người tìm hiểu, không phải sự kính sợ của người đứng trước một khối sách bất khả xâm phạm, cũng không phải sự coi thường của người cho rằng đó là chuyện cũ không còn gì để học.
Câu hỏi thường gặp
Tứ thư Ngũ kinh gồm những cuốn nào?
Tứ thư gồm Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử. Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Tổng cộng chín bộ, dù riêng Kinh Lễ trong truyền thống còn chia ra ba bộ khác nhau.
Ai gom bốn sách thành Tứ thư?
Chu Hy đời Tống là người gắn liền với Tứ thư. Ông viết chú giải cho bốn cuốn, và bộ chú giải ấy được các triều đại sau chọn làm sách chuẩn của khoa cử, nhờ vậy cách gọi Tứ thư phổ biến khắp vùng chịu ảnh hưởng Nho học.
Vì sao trước kia gọi là Lục kinh mà sau còn Ngũ kinh?
Lục kinh gồm thêm Nhạc kinh. Nhạc kinh không còn truyền lại, có ý kiến cho rằng nó vốn không thành sách riêng. Từ đời Hán, triều đình đặt bác sĩ cho năm kinh nên cách gọi Ngũ kinh thành chuẩn.
Người mới nên đọc Tứ thư hay Ngũ kinh trước?
Người mới nên bắt đầu với Tứ thư, nhất là Luận ngữ, vì văn ngắn, gần đời sống và có nhiều bản dịch tiếng Việt kèm chú giải. Ngũ kinh văn cổ hơn, cần nhiều kiến thức nền, nên để sau khi đã quen thuật ngữ Nho học.
Tứ thư Ngũ kinh có phải sách tôn giáo không?
Tuỳ cách nhìn. Nhiều nhà nghiên cứu coi đây là kinh điển của một học thuyết luân lý, chính trị và giáo dục. Cũng có người nhấn mạnh chiều kích tế tự của Nho giáo. Bản thân các sách chủ yếu bàn chuyện con người, gia đình và cách cai trị.
Ở Việt Nam ngày xưa học Tứ thư Ngũ kinh để làm gì?
Chủ yếu để đi thi theo đường khoa cử và ra làm quan, làm thầy. Đề thi kinh nghĩa lấy câu trong các sách này. Ngoài ra, chín bộ sách là nguồn chữ nghĩa, điển cố cho văn chương, câu đối và cách ứng xử trong làng xã.