NhoGiao.comNho Giáo
Khoa cử, học vị và trạng nguyên

Thi Hương thời xưa: thi ở đâu, mấy trường, đỗ thế nào thì thành tú tài, cử nhân

Thi Hương là kỳ thi cấp vùng mở đầu con đường khoa bảng. Bài giải thích ai được dự, thi mấy trường, loại dần ra sao và vì sao có người đỗ tú tài, có người đỗ cử nhân.

Wide shot of a grassy open field near an old provincial town in northern Vietnam at dawn, rows of small bamboo shelters and folding cots, figures seen from behind

Thi Hương là kỳ thi cấp vùng, cửa đầu tiên của khoa cử Nho học: ai qua được các trường thi đầu thì đỗ tú tài (thời Lê gọi sinh đồ), ai qua trọn các trường thì đỗ cử nhân (thời Lê gọi hương cống) và có quyền lên kinh dự thi Hội. Nhiều người hôm nay chỉ biết thi Hương qua cảnh lều chõng trong văn thơ, nhưng đằng sau đó là cả một quy trình chặt chẽ: sát hạch ở địa phương, chia trường thi theo vùng, chấm loại dần qua từng trường, rồi mới xướng danh.

Bài này đi theo đúng trình tự một sĩ tử thời Lê trung hưng hoặc thời Nguyễn trải qua, để bạn hiểu chữ "thi Hương" trong sách giáo khoa hay trong các câu chuyện về ông Tú, ông Cử. Chi tiết từng triều có thay đổi, nên bài nói phần khung chung và ghi rõ chỗ nào khác nhau. Tổng quan về toàn bộ lịch sử khoa cử từ khoa đầu tiên đến khoa cuối đã có nhiều sách viết; ở đây chỉ bàn riêng kỳ thi cấp vùng.

Thi Hương là gì và vì sao gọi là "Hương"

Chữ "hương" ở đây có nghĩa là làng, là quê, là địa phương. Thi Hương là kỳ thi tổ chức ở các vùng, khác với thi Hội tổ chức ở kinh đô. Trong mô hình ba cấp của khoa cử Nho học thời Lê và thời Nguyễn, thi Hương là cấp thứ nhất, thi Hội là cấp thứ hai, thi Đình là cấp cao nhất do nhà vua chủ trì. Người muốn làm quan bằng con đường học vấn phải vượt qua lần lượt từng cấp, không có lối tắt.

Khoa cử nước ta có từ thời Lý, nhưng hình thức thi Hương theo nền nếp đều đặn, định kỳ, phải đến đời Lê sơ mới rõ. Theo sử chép, từ đời Lê Thánh Tông, lệ thi Hương rồi thi Hội cách nhau ba năm một khoa trở thành quy củ, và các triều sau giữ về cơ bản khung ấy. Năm có thi Hương thường gọi là năm "hương thí", năm sau là năm thi Hội. Nhịp ba năm này khiến việc học của sĩ tử gắn với một chu kỳ dài: lỡ một khoa là phải chờ ba năm nữa.

Vì thi ở vùng, nên mỗi trường thi Hương thu sĩ tử của một số trấn hoặc tỉnh. Thời Nguyễn, cả nước có một số trường thi lớn như Hà Nội, Nam Định, Thừa Thiên, Nghệ An, Bình Định, Gia Định; số trường và nơi đặt trường thay đổi theo từng giai đoạn, nên khi đọc tài liệu bạn nên xem năm cụ thể.

Ai được vào trường thi

Qua khảo khoá ở địa phương. Không phải ai biết chữ cũng được nộp quyển. Trước kỳ thi, học trò thường phải qua kỳ sát hạch do quan học ở phủ, huyện hoặc tỉnh tổ chức, gọi là khảo khoá hay hạch. Người qua hạch mới có tên trong danh sách được dự thi Hương.

Có lý lịch rõ ràng. Sĩ tử khai quê quán, cha ông, và phải có người hoặc làng xã xác nhận. Một số nhóm người bị cấm dự thi theo luật thời đó, chẳng hạn người đang mang tội, con nhà làm nghề bị coi là thấp kém, người có tang theo quy định. Những lệ cấm này phản ánh quan niệm xã hội của thời phong kiến, nay nhìn lại thấy rõ là thiếu công bằng.

Không giới hạn tuổi chặt. Có người đi thi từ khi còn trẻ, có người thi đến già. Văn học và giai thoại để lại nhiều hình ảnh cha con, ông cháu cùng lều chõng vào một trường thi. Điều đó cho thấy thi Hương không chỉ là chuyện của thanh niên, mà là con đường cả đời của nhiều nhà nho.

Tự lo hành trang. Sĩ tử mang theo lều, chõng tre, ống quyển, nghiên bút, đồ ăn khô và nước uống vì phải ở trong trường thi trọn một ngày, có khi thêm đêm. Chữ "lều chõng" về sau thành cách gọi chung việc thi cử thời xưa.

Các trường thi trong một kỳ thi Hương

Một kỳ thi Hương thường chia làm bốn kỳ nhỏ, gọi là bốn "trường", thi cách nhau vài ngày. Thứ tự và nội dung từng trường đổi theo triều và có khi đổi ngay trong một triều, nên bảng dưới chỉ là khung thường gặp ở thời Lê trung hưng và thời Nguyễn.

TrườngThường thi gìMục đích
Trường nhấtKinh nghĩa: giải thích một câu trong Tứ thư, Ngũ kinhKiểm tra độ thuộc và hiểu kinh điển
Trường nhìChế, chiếu, biểu (văn bản hành chính của triều đình), có thời đổi thành thơ phúKiểm tra khả năng viết văn bản nhà nước
Trường baThơ Đường luật và phú, có thời đổi thành chế chiếu biểuKiểm tra lời văn, niêm luật, đối
Trường tưVăn sách: trả lời câu hỏi về kinh sử và việc đờiKiểm tra kiến thức tổng hợp, khả năng bàn việc

Điểm cốt lõi là cơ chế loại dần: chỉ người đạt ở trường nhất mới được vào trường nhì, đạt trường nhì mới vào trường ba, và cứ thế. Một kỳ thi Hương có thể có hàng nghìn người nộp quyển trường nhất nhưng chỉ vài trăm người còn lại ở trường cuối. Vì vậy người xưa thường nói "trượt từ trường nhất" hay "vào được tam trường" như một cách đo trình độ.

Tú tài và cử nhân khác nhau ở đâu

Thời Lê, người qua ba trường đầu nhưng không qua trường thứ tư thì đỗ sinh đồ; người qua đủ bốn trường thì đỗ hương cống. Sang thời Nguyễn, đời Minh Mạng đổi tên gọi: sinh đồ gọi là tú tài, hương cống gọi là cử nhân. Vì vậy trong sách cũ bạn sẽ gặp cả hai cặp tên, chỉ khác thời gian, không khác bản chất.

Hai học vị này khác nhau rất xa về quyền lợi. Cử nhân được lên kinh dự thi Hội, được bổ làm quan cấp thấp như huấn đạo, tri huyện nếu không đỗ cao hơn, và có địa vị rõ ràng ở làng xã. Tú tài thì không được dự thi Hội; muốn tiến lên, họ phải thi Hương lại ở khoa sau để giành học vị cử nhân. Nhiều người đỗ tú tài một lần rồi thi mãi không lên được, nên dân gian có những cách gọi trêu như "tú kép" (đỗ tú tài hai lần), "tú mền".

Ví dụ quen thuộc nhất với học sinh là Trần Tế Xương, người thường được gọi là Tú Xương: ông đi thi Hương nhiều khoa ở trường Nam Định, chỉ đỗ tú tài và không lên được cử nhân. Phần thơ văn của ông thuộc phạm vi văn học; ở đây chỉ dùng ông như một trường hợp điển hình về học vị tú tài. Còn người đỗ đầu thi Hương thì được gọi là giải nguyên, một danh hiệu riêng sẽ gặp lại khi bàn về tam nguyên.

Một kỳ thi Hương diễn ra theo trình tự nào

Ghép các mô tả trong sách khảo cứu về khoa cử thời Nguyễn, có thể hình dung một kỳ thi Hương theo các bước dưới đây. Chi tiết như số ngày giữa các trường, cách gọi tên quan trường có khác nhau giữa các khoa.

  1. Triều đình ra lệnh mở khoa, cử quan trường gồm chủ khảo, phó chủ khảo và các chức giám khảo, phân khảo; quan trường đến nơi thi và ở biệt lập để tránh tiếp xúc với sĩ tử.
  2. Sáng sớm ngày thi trường nhất, sĩ tử xếp hàng điểm danh, bị khám người để không mang sách vở vào, rồi vào khu vực được chia theo vi (ô đất) để dựng lều.
  3. Đề thi được treo hoặc đọc lên; sĩ tử làm bài vào quyển thi đã đóng dấu, viết đúng thể thức, tránh chữ kiêng húy, nộp quyển trước giờ quy định.
  4. Quyển thi qua nhiều lượt chấm, từ sơ khảo đến phúc khảo, có ghi điểm theo các bậc; kết quả trường nhất được yết lên để người đạt vào thi trường sau.
  5. Hết trường cuối, quan trường cân nhắc điểm cả kỳ, quyết định danh sách tú tài, cử nhân và người đỗ đầu, rồi tổ chức lễ xướng danh công bố tên người đỗ.
  6. Người đỗ cử nhân được ghi tên để chuẩn bị dự thi Hội ở kinh đô vào năm sau; người đỗ tú tài về quê, tiếp tục học để chờ khoa sau.

Cách chấm điểm triều Nguyễn thường được ghi lại với các bậc ưu, bình, thứ, liệt (liệt là hỏng). Các tài liệu khác nhau về cách cộng điểm giữa các trường, nên nếu bạn cần chi tiết cho bài nghiên cứu, hãy dựa vào một công trình chuyên khảo cụ thể và ghi rõ nguồn.

Thi Hương trong đời sống làng xã

Ở làng, một người đỗ cử nhân là chuyện của cả họ, cả làng. Theo nhiều mô tả, làng có thể đón rước người đỗ, ghi tên vào văn chỉ hoặc bảng của hội tư văn, và người đỗ có chỗ ngồi riêng trong các buổi hội họp. Ngược lại, sĩ tử đi thi cũng thường nhờ vào sự góp sức của gia đình và họ hàng: tiền lộ phí, người gánh lều chõng, thời gian không phải làm ruộng để ôn sách.

Kỳ thi ba năm một lần vì thế tạo ra nhịp sống riêng ở những vùng có truyền thống học hành. Năm có thi Hương, đường đến trường thi đông người, các nhà trọ, hàng quán quanh trường mọc lên. Tú Xương và nhiều nhà nho khác đã để lại những trang viết về cảnh trường thi cuối thế kỷ 19, khi khoa cử Nho học bắt đầu xen yếu tố của chính quyền thuộc địa.

Theo các tài liệu phổ biến, khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ diễn ra năm 1915 tại trường Nam Định, ở Trung Kỳ năm 1918; khoa thi Hội cuối của khoa cử Nho học là năm 1919. Sau đó hệ thống trường học mới thay thế hẳn, và chữ tú tài, cử nhân được dùng lại với nghĩa khác trong giáo dục hiện đại. Cử nhân hôm nay là người tốt nghiệp đại học, còn tú tài là cách gọi cũ của bằng tốt nghiệp trung học ở một số giai đoạn.

Hiểu đúng một vài điều hay nhầm

Thi Hương không phải thi ở làng. Dù chữ "hương" nghĩa là làng, thi Hương tổ chức ở trường thi lớn của cả vùng, nhiều tỉnh chung một trường. Kỳ thi ở làng hay huyện là khảo khoá, sát hạch, không phải thi Hương.

Tú tài không phải "đỗ một nửa". Tú tài là một học vị thật, được triều đình công nhận, có chỗ đứng trong xã hội làng xã, được miễn một số nghĩa vụ theo từng thời. Chỉ là học vị này không đủ điều kiện để lên thi Hội.

Đỗ cử nhân chưa phải đỗ tiến sĩ. Danh hiệu "ông Nghè" chỉ dành cho người đỗ thi Hội, thi Đình. Người đỗ cử nhân thường được gọi là "ông Cử", thời Lê gọi là "ông Cống" theo chữ hương cống.

Đề thi không phải đề "mẹo". Đề kinh nghĩa lấy câu trong kinh điển, đề văn sách hỏi việc thật. Khó ở chỗ phải thuộc và hiểu rộng, viết đúng thể văn, không phạm luật trường thi, chứ không ở chỗ đánh đố.

Câu hỏi thường gặp

Thi Hương bao lâu tổ chức một lần?

Từ thời Lê sơ trở đi, theo sử chép, thi Hương được tổ chức theo lệ ba năm một khoa, năm sau đó là thi Hội. Có những khoa mở thêm hoặc hoãn vì việc triều chính, nên khi tra một năm cụ thể bạn cần đối chiếu sách chuyên khảo.

Đỗ thi Hương thì được làm quan không?

Người đỗ cử nhân (hương cống) có thể được bổ những chức quan nhỏ hoặc chức về học như huấn đạo, giáo thụ, tuỳ nhu cầu triều đình từng thời. Người đỗ tú tài thường không được bổ quan mà tiếp tục học hoặc dạy học ở làng.

Sinh đồ và tú tài có phải là một không?

Về vị trí trong khoa cử thì tương đương: đều là người qua các trường đầu của thi Hương nhưng không qua trường cuối. Sinh đồ là tên gọi thời Lê, tú tài là tên gọi đời Minh Mạng nhà Nguyễn trở đi.

Vì sao gọi là lều chõng?

Sĩ tử phải tự mang lều để che mưa nắng và chõng tre để ngồi viết, nằm nghỉ trong trường thi suốt ngày thi. Hình ảnh ấy quen thuộc đến mức "lều chõng" thành cách nói chung về chuyện đi thi thời Nho học.

Giải nguyên là gì?

Giải nguyên là người đỗ đầu một trường thi Hương. Mỗi trường thi trong cùng một khoa có giải nguyên riêng, nên một khoa thi Hương cả nước có thể có nhiều giải nguyên. Đây cũng là một trong ba danh hiệu tạo nên chữ tam nguyên.

Khoa thi Hương cuối cùng diễn ra khi nào?

Theo các tài liệu phổ biến, khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ là năm 1915 tại trường Nam Định và ở Trung Kỳ là năm 1918. Khoa thi Hội cuối cùng của khoa cử Nho học diễn ra năm 1919 ở Huế.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183