Thi Hội là kỳ thi ở kinh đô dành cho cử nhân (hương cống) để chọn ra người đủ chuẩn tiến sĩ; thi Đình là kỳ thi tiếp theo, thường chỉ một bài văn sách, do nhà vua chủ trì để xếp hạng những người đã đỗ thi Hội. Nói gọn: thi Hội quyết định đỗ hay trượt, thi Đình quyết định đứng ở bậc nào trong bảng vàng. Nhiều người nhầm thi Đình là một vòng loại nữa, thực tế ở phần lớn các khoa, người vào thi Đình hầu như đều được lấy đỗ, chỉ khác nhau thứ hạng.
Bài này giải thích hai kỳ thi ấy theo khung chung thời Lê và thời Nguyễn, kèm học vị phó bảng do triều Nguyễn đặt ra. Những con số như số người đỗ từng khoa hay tổng số tiến sĩ trong lịch sử, sách ghi chênh nhau, nên bài chỉ nói ở mức cơ chế. Bài về các danh hiệu tam khôi, hoàng giáp, tam nguyên được viết riêng.
Thi Hội: kỳ thi chung của cả nước ở kinh đô
Thi Hội được tổ chức ở kinh đô vào năm sau khoa thi Hương. Chữ "hội" mang nghĩa hội tụ: sĩ tử đã đỗ thi Hương ở mọi trường thi trong nước cùng về một nơi. Thời Lê, nơi thi là kinh thành Thăng Long; thời Nguyễn là kinh đô Huế. Việc tổ chức do bộ Lễ phụ trách, triều đình cử các quan đại thần có học vấn cao làm chủ khảo, tri cống cử và các chức giám thí.
Người được dự thi Hội là cử nhân (thời Lê là hương cống), gồm cả người vừa đỗ khoa thi Hương năm trước lẫn cử nhân các khoa cũ chưa đỗ thi Hội. Ngoài ra, theo lệ từng thời, một số giám sinh Quốc Tử Giám và quan chức có học vị phù hợp cũng có thể được dự. Vì cử nhân các khoa cũ vẫn được thi lại, nên trong một trường thi Hội có người mới hai mươi tuổi ngồi cạnh người đã thi năm, sáu khoa.
Thi Hội cũng chia làm nhiều trường, cấu trúc gần với thi Hương nhưng đề sâu hơn, đòi hỏi kiến thức kinh sử rộng hơn: kinh nghĩa, chế chiếu biểu, thơ phú và văn sách. Cơ chế loại dần qua từng trường cũng được áp dụng. Người đạt đủ các trường và đủ điểm thì có tên trong danh sách trúng cách, tức đủ chuẩn để vào thi Đình. Người đỗ đầu thi Hội gọi là hội nguyên.
Thi Đình: nhà vua hỏi, sĩ tử đáp
Thi Đình được tổ chức trong cung, ở sân điện của nhà vua, nên gọi là "đình" (sân triều). Đề thi do nhà vua ra hoặc do quan đại thần soạn rồi vua duyệt, thường là một bài văn sách dài, hỏi về đạo trị nước, về kinh sử và về những việc đang đặt ra cho triều đình. Kiểu bài này còn gọi là "đình đối", nghĩa là đối đáp trước sân vua.
Khác với thi Hội, thi Đình không chủ yếu để loại người. Người vào thi Đình đã là người đỗ thi Hội; bài thi Đình dùng để xếp họ vào các bậc: đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp. Các quan duyệt quyển đọc bài, đề nghị thứ hạng, nhà vua xem xét và quyết định cuối cùng, nhất là với những người đứng đầu bảng. Có những khoa vua tự đọc các bài đầu bảng và đổi thứ hạng theo ý mình, sử sách có ghi lại một số trường hợp như vậy.
Bài thi Đình đòi hỏi kiến thức và chính kiến. Sĩ tử phải viết dài, trích dẫn kinh điển đúng chỗ, dẫn sử cũ, rồi đưa ra kiến giải về việc trước mắt. Một bài văn sách hay được đánh giá ở chỗ vừa đúng đạo lý Nho gia, vừa có ý thực tế. Đây là lý do nhiều nhà nghiên cứu xem văn sách thi Đình là nguồn tư liệu quý để hiểu triều đình thời đó quan tâm điều gì.
So sánh thi Hội và thi Đình
Bảng dưới tóm khung chung, áp dụng phần lớn cho thời Lê trung hưng và thời Nguyễn. Một số khoa có ngoại lệ tuỳ lệnh vua.
| Tiêu chí | Thi Hội | Thi Đình |
|---|---|---|
| Nơi thi | Trường thi ở kinh đô | Trong cung, sân điện |
| Người dự | Cử nhân (hương cống), một số giám sinh, quan có học vị phù hợp | Người đã trúng cách thi Hội |
| Số bài | Nhiều trường, loại dần | Thường một bài văn sách (đình đối) |
| Người ra đề | Quan trường do triều đình cử | Nhà vua ra đề hoặc duyệt đề |
| Mục đích chính | Chọn người đủ chuẩn tiến sĩ | Xếp hạng người đỗ |
| Danh hiệu đỗ đầu | Hội nguyên | Đình nguyên (người đứng đầu bảng thi Đình) |
| Học vị nhận được | Chưa có học vị tiến sĩ cho tới khi qua thi Đình | Tiến sĩ theo ba giáp; thời Nguyễn có thêm phó bảng từ thi Hội |
Chữ "đình nguyên" chỉ người đứng đầu thi Đình của một khoa. Nếu khoa ấy có lấy trạng nguyên thì đình nguyên chính là trạng nguyên; nếu khoa ấy không ai vào đệ nhất giáp, người đứng đầu đệ nhị giáp được gọi là đình nguyên hoàng giáp.
Phó bảng: học vị riêng của nhà Nguyễn
Phó bảng là học vị do nhà Nguyễn đặt ra, theo nhiều tài liệu là từ đời Minh Mạng. Ý tưởng là ghi nhận những người làm bài thi Hội khá, điểm gần đến mức trúng cách nhưng không đủ để vào thi Đình. Tên của họ được ghi vào một bảng phụ, khác với bảng chính ghi tên tiến sĩ, vì thế mới gọi là "phó bảng", nghĩa là bảng phụ.
Người đỗ phó bảng được triều đình dùng, có thể bổ làm quan, và được xã hội gọi là ông Phó bảng. Tuy nhiên, phó bảng không phải tiến sĩ và tên phó bảng không được khắc vào bia tiến sĩ. Nhiều nhân vật nổi tiếng đầu thế kỷ 20 có học vị phó bảng, như Phan Châu Trinh; phần hoạt động tư tưởng của các nhà nho này được bàn ở những bài khác của trang.
Việc đặt ra phó bảng cho thấy một xu hướng chung của triều Nguyễn: mở rộng nguồn người có học để dùng vào bộ máy nhà nước, trong khi vẫn giữ tiêu chuẩn khắt khe cho danh hiệu tiến sĩ. Cách làm này gần giống việc chia học vị tú tài và cử nhân ở thi Hương, nghĩa là người đi thi dù không đạt mức cao nhất vẫn có một mức ghi nhận tương ứng với công sức học.
Sau khi đỗ: những nghi thức gắn với thi Đình
Truyền lô và xướng danh. Kết quả thi Đình được công bố trong một nghi lễ trang trọng ở sân điện, gọi tên từng người theo thứ hạng. Tên người đỗ được yết lên bảng, thường gọi là bảng vàng.
Ban mũ áo, ban yến. Theo lệ từng triều, người đỗ được ban mũ áo, được dự yến do triều đình tổ chức. Một số triều có lệ cho các tiến sĩ cưỡi ngựa xem hoa trong kinh thành.
Vinh quy bái tổ. Người đỗ được phép về quê, làng xã tổ chức đón rước, tới bái từ đường, đình làng. Nghi lễ này mang ý nghĩa lớn về danh dự gia tộc; phần phong tục làng xã cụ thể có nhiều dị bản theo vùng.
Khắc tên vào bia. Thời Lê, tên tiến sĩ các khoa được khắc vào bia đá dựng ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long. Nhiều bia dựng bù về sau, không phải khoa nào cũng khắc ngay. Nhà Nguyễn dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu Huế.
Hai kỳ thi ở kinh đô thay đổi qua các triều
Không phải ngay từ đầu khoa cử nước ta đã có cặp thi Hội, thi Đình rõ ràng như hình dung phổ biến. Khoa thi năm 1075 đời Lý thường được gọi là khoa Minh kinh bác học, mục đích là chọn người thông kinh sách, sử chép khá ngắn gọn về cách thi. Thời Trần có các khoa thi Thái học sinh, và từ khoa năm 1247 bắt đầu đặt danh hiệu tam khôi cho ba người đứng đầu, đánh dấu việc xếp hạng người đỗ trở thành nghi thức quan trọng của triều đình.
Đến thời Lê sơ, khung thi Hội rồi thi Đình mới thành nền nếp. Khoa năm 1442 đời Lê Thái Tông là khoa đầu tiên có tên tiến sĩ được khắc lên bia ở Văn Miếu Thăng Long, dù bia được dựng về sau. Từ đời Lê Thánh Tông, nhịp ba năm một khoa được giữ khá đều đặn; nhà Mạc và thời Lê trung hưng tiếp tục mở khoa, kể cả trong những giai đoạn chiến sự. Nhà Nguyễn mở khoa thi Hội đầu tiên vào đời Minh Mạng, theo nhiều sách là năm 1822, và duy trì cho đến khoa cuối năm 1919.
Mỗi triều điều chỉnh số trường thi, thể văn, cách chấm và số người lấy đỗ theo nhu cầu riêng. Vì thế khi so hai khoa cách nhau vài trăm năm, bạn nên coi chúng là hai phiên bản của cùng một ý tưởng: dùng văn chương và hiểu biết kinh điển để chọn người làm việc nước, chứ không phải một quy chế bất biến.
Đọc tài liệu về thi Hội, thi Đình cho đúng
Khi gặp một dòng tiểu sử ghi "đỗ tiến sĩ năm…", bạn nên tự hỏi người đó đỗ ở giáp nào, khoa nào, đời vua nào. Một người "đỗ tiến sĩ" có thể là trạng nguyên, có thể là đồng tiến sĩ xuất thân ở đệ tam giáp, và con đường làm quan về sau khác nhau khá nhiều. Sách Việt hay ghi theo năm can chi của khoa thi, chẳng hạn khoa Nhâm Tuất, khoa Kỷ Mùi, nên phải đổi sang năm dương lịch theo đúng triều đại.
Một chỗ hay nhầm khác là đánh đồng "đỗ thi Hội" với "đỗ tiến sĩ". Về nguyên tắc, học vị tiến sĩ chỉ chính thức sau khi qua thi Đình. Thời Nguyễn còn có phó bảng, nên câu "đỗ thi Hội" có thể chỉ cả người đỗ phó bảng. Đọc kỹ chữ dùng trong sách là cách duy nhất để không gán nhầm học vị.
Cuối cùng, các con số tổng như "khoa cử Nho học có bao nhiêu khoa thi Hội, bao nhiêu tiến sĩ" được các công trình thống kê lại khác nhau, vì cách tính khoa (có tính khoa chế khoa, khoa Minh kinh hay không) và vì tư liệu thất lạc. Nếu cần một con số, hãy chọn một nguồn cụ thể và ghi "theo sách…", đừng ghép số của nhiều nguồn.
Câu hỏi thường gặp
Ai được dự thi Hội?
Chủ yếu là những người đã đỗ cử nhân (thời Lê là hương cống), gồm cả người đỗ các khoa trước. Theo lệ từng thời, một số giám sinh và quan chức có học vị phù hợp cũng được dự. Tú tài không được dự thi Hội.
Thi Đình có đánh trượt người không?
Ở phần lớn các khoa, thi Đình chủ yếu để xếp hạng những người đã đỗ thi Hội. Sử sách có ghi những trường hợp ngoại lệ, nhưng về cơ bản người vào thi Đình đều được lấy đỗ ở một trong ba giáp.
Đề thi Đình do ai ra?
Đề thi Đình do nhà vua ra hoặc do quan đại thần soạn rồi vua duyệt. Đề thường là một bài văn sách hỏi về đạo trị nước, kinh sử và các việc đương thời, nên còn gọi là đình đối.
Phó bảng có phải là tiến sĩ không?
Không. Phó bảng là học vị nhà Nguyễn đặt cho người thi Hội đạt gần chuẩn trúng cách. Họ được ghi tên ở bảng phụ, được dùng làm quan, nhưng không phải tiến sĩ và không được khắc tên lên bia tiến sĩ.
Hội nguyên và đình nguyên khác nhau thế nào?
Hội nguyên là người đỗ đầu thi Hội, đình nguyên là người đứng đầu thi Đình của cùng khoa. Hai người có thể là một hoặc khác nhau, vì thứ hạng thi Đình được xếp lại dựa trên bài văn sách mới.
Vì sao gọi người đỗ tiến sĩ là ông Nghè?
Dân gian quen gọi người đỗ tiến sĩ là ông Nghè. Các sách giải thích nguồn gốc chữ "nghè" theo vài cách khác nhau, chưa thống nhất, nên khi viết bạn chỉ cần biết đây là cách gọi phổ biến, không cần khẳng định một nguồn gốc duy nhất.