Kinh Thư, còn gọi Thượng thư, là tập văn kiện chính sự của các đời vua thượng cổ; Kinh Xuân Thu là bộ sử biên niên của nước Lỗ, ghi các việc từ năm 722 đến năm 481 TCN. Hai bộ này thường được xếp cạnh nhau vì đều là sử, nhưng cách viết khác hẳn: một bên là lời nói được ghi lại, một bên là những dòng ghi chép cực ngắn theo từng năm.
Với người mới, hai bộ này khó hơn Kinh Thi nhiều. Kinh Thư văn cổ và có câu chuyện văn bản thật giả phức tạp; Kinh Xuân Thu ngắn đến mức đọc trơn không hiểu gì. Bài này giải thích từng bộ chứa gì, vì sao chúng quan trọng với Nho gia, và cách đọc để không lạc.
Kinh Thư: văn kiện của các đời vua thượng cổ
Tên Thượng thư thường được giải thích là "sách đời thượng cổ". Nội dung gồm những bài văn được cho là lời của các vua và quan từ thời Nghiêu, Thuấn qua nhà Hạ, nhà Thương đến nhà Chu. Sách chia theo triều đại thành các phần Ngu thư, Hạ thư, Thương thư và Chu thư. Phần Chu thư có nhiều thiên được giới nghiên cứu coi là có giá trị tư liệu cao nhất.
Các thiên trong Kinh Thư thuộc nhiều thể văn. Điển ghi phép tắc, việc lớn của các vua thánh, như thiên Nghiêu điển. Mô là lời bàn mưu. Huấn là lời răn dạy. Cáo là lời bố cáo, như thiên Tửu cáo răn việc uống rượu. Thệ là lời thề trước khi ra trận, như Thang thệ, Mục thệ. Mệnh là lời vua ban mệnh cho bề dưới. Biết các thể này giúp bạn đoán được mỗi thiên đang làm việc gì.
Có những thiên nổi tiếng vì nội dung riêng. Thiên Vũ cống tả chín châu, núi sông, sản vật, được coi là văn bản địa lý sớm. Thiên Hồng phạm trình bày chín phép trị nước, trong đó có nhắc ngũ hành; phần ngũ hành như một học thuyết xin để dành cho chuyên đề riêng về học thuyết cổ, có thể đọc thêm trên Học Thuyết. Với Nho gia, Kinh Thư quan trọng vì nó là nơi lưu lại hình ảnh các vua lý tưởng và ý tưởng cai trị bằng đức, lo cho dân.
Chuyện bản thật, bản giả của Kinh Thư
Kim văn Thượng thư. Sau thời Tần đốt sách, đầu đời Hán, một học giả tên Phục Sinh truyền lại khoảng hai mươi tám, hai mươi chín thiên Thượng thư, chép bằng chữ đương thời nên gọi là kim văn. Phần này được giới nghiên cứu coi là có gốc cổ thật.
Cổ văn Thượng thư. Cũng đời Hán, sử chép có một bản viết bằng chữ cổ tìm thấy trong vách nhà cũ của họ Khổng, nhiều hơn bản kim văn một số thiên. Bản này về sau lại thất lạc.
Bản dâng thời Đông Tấn. Đời Đông Tấn, Mai Trách dâng lên một bản Thượng thư có chú giải mang tên Khổng An Quốc, gồm cả các thiên kim văn và nhiều thiên cổ văn. Bản này được dùng làm chuẩn suốt hơn một nghìn năm, kể cả trong khoa cử.
Diêm Nhược Cừ và kết luận đời Thanh. Từ đời Tống đã có người nghi các thiên cổ văn trong bản ấy. Đến đời Thanh, Diêm Nhược Cừ viết sách khảo chứng, chỉ ra nhiều bằng chứng rằng các thiên cổ văn đó do người đời sau soạn. Đa số học giả hiện nay chấp nhận kết luận này.
Điều đó có ý nghĩa gì cho người đọc. Một số câu nổi tiếng nằm trong phần bị coi là soạn muộn, như câu "dân duy bang bản", ý là dân là gốc của nước, trong thiên Ngũ tử chi ca. Câu vẫn có giá trị như một ý tưởng được Nho gia nhiều đời trân trọng, nhưng không nên giới thiệu nó như lời chắc chắn của thời nhà Hạ.
Kinh Xuân Thu: sử nước Lỗ trong 242 năm
Kinh Xuân Thu ghi việc theo năm, tháng, từ năm đầu đời Lỗ Ẩn Công đến năm thứ mười bốn đời Lỗ Ai Công, tương ứng khoảng năm 722 đến năm 481 TCN, trải qua mười hai đời vua Lỗ. Tên gọi thời kỳ Xuân Thu trong lịch sử Trung Hoa chính là lấy từ tên bộ sử này. Mỗi năm thường chỉ có vài dòng, mỗi dòng vài chữ: ai làm gì, ở đâu, tháng nào.
Truyền thống cho rằng Khổng Tử dựa vào sử nước Lỗ mà chỉnh lý thành Xuân Thu, gửi vào cách dùng chữ những lời khen chê kín đáo. Sách Mạnh Tử, thiên Đằng Văn Công, ghi rằng Khổng Tử làm xong Xuân Thu thì loạn thần tặc tử phải sợ. Cũng trong đoạn đó có lời Khổng Tử rằng người hiểu ông là nhờ Xuân Thu, người trách ông cũng là vì Xuân Thu. Mức độ Khổng Tử thực sự tham gia là điều giới nghiên cứu vẫn bàn, nhưng niềm tin ấy đã định hình cách Nho gia đọc sử.
Từ đó có khái niệm "Xuân Thu bút pháp": cách viết sử dùng một chữ để khen, một chữ để chê, gọi tên hay không gọi tên, gọi tước hay gọi trơn đều có ý. Ở Việt Nam, các nhà chép sử theo lối Nho học cũng chịu ảnh hưởng quan niệm này khi lựa chữ để ghi việc của vua quan.
Ba sách "truyện" giải thích Kinh Xuân Thu
Vì Kinh Xuân Thu quá vắn tắt, người đọc từ xưa đã dựa vào các sách truyện giải thích. Ba sách được đưa vào Thập tam kinh là:
| Sách | Người soạn theo truyền thống | Đặc điểm | Hữu ích cho ai |
|---|---|---|---|
| Tả truyện | Tả Khâu Minh | Kể chi tiết sự việc, nhân vật, lời nói, trận đánh; văn hay | Người muốn biết chuyện gì đã xảy ra và đọc như văn sử |
| Công Dương truyện | Công Dương Cao | Giải thích ý nghĩa từng chữ dùng, dạng hỏi đáp | Người muốn hiểu cách Nho gia đọc khen chê trong từng chữ |
| Cốc Lương truyện | Cốc Lương Xích | Cũng giải nghĩa chữ, gần với Công Dương nhưng nhấn khác | Người muốn so sánh các lối giải nghĩa |
Ví dụ hay được dẫn là dòng đầu đời Ẩn Công ghi việc Trịnh bá thắng Đoạn ở đất Yên. Kinh chỉ có vài chữ. Tả truyện kể cả câu chuyện mẹ con, anh em nhà họ Trịnh dẫn tới việc này; còn các sách truyện giải nghĩa vì sao kinh dùng chữ "khắc" và gọi là "Trịnh bá" mà không gọi khác. Đọc ba sách cạnh nhau, bạn thấy cùng một dòng sử có thể được giải thích theo nhiều tầng.
Hai bộ sử nói gì về quyền lực và trách nhiệm
Đọc Kinh Thư, người ta gặp đi gặp lại một ý: quyền cai trị không tự nhiên mà có mãi. Các thiên trong phần Chu thư nhiều lần giải thích vì sao nhà Thương mất nước và nhà Chu được thay thế: vì vua cuối nhà Thương không lo cho dân, sa vào rượu chè, còn nhà Chu giữ đức. Thiên Khang cáo có ý rằng mệnh trời không cố định, chỉ ở với người có đức. Ý tưởng này về sau thành một trụ cột trong tư tưởng chính trị của Nho gia.
Kinh Xuân Thu, theo cách đọc của Nho gia, lại là nơi đặt ra chuẩn mực cho người cầm quyền thông qua việc ghi chép. Người làm sai bị ghi bằng chữ chê, người làm đúng được ghi bằng chữ khen, việc vượt lễ bị gọi đúng tên. Quan niệm ấy tạo ra ý tưởng rằng lịch sử là một toà án đạo đức, người cầm quyền phải sợ sự phán xét của sử sách.
Hai cách nghĩ này được giới nghiên cứu đánh giá theo nhiều chiều. Một mặt, chúng cho người có học một chỗ đứng để can ngăn vua chúa, đòi người cai trị phải có trách nhiệm với dân. Mặt khác, chúng cũng có thể được dùng để biện minh cho người thắng, vì sử thường do triều đại sau viết. Người đọc hôm nay có thể giữ cả hai mặt khi đọc.
Những hiểu lầm thường gặp về hai bộ sách
Kinh Thư là sách về thư từ. Không phải. Chữ thư ở đây có nghĩa là sách, văn bản ghi chép. Kinh Thư là sách văn kiện chính sự, không liên quan đến việc viết thư.
Tên Xuân Thu là vì sách nói về mùa xuân, mùa thu. Cách giải thích phổ biến là sử biên niên ghi việc theo bốn mùa, và người ta lấy hai mùa xuân, thu để đại diện cho cả năm. Như vậy Xuân Thu có nghĩa gần với "biên niên", không phải sách bàn về mùa.
Tả truyện là một phần của Kinh Xuân Thu. Tả truyện là sách riêng, đi kèm để giải thích Kinh Xuân Thu. Về sau người ta in kinh và truyện xen nhau theo từng năm, nên dễ tưởng là một.
Kinh Thư là sử chép chính xác thời Nghiêu Thuấn. Những thiên nói về thời Nghiêu, Thuấn được giới nghiên cứu cho là soạn muộn hơn nhiều so với thời được kể. Chúng có giá trị như cách người đời Chu hình dung về các vua lý tưởng, không phải biên bản của thời ấy.
Đọc Kinh Thư và Kinh Xuân Thu cho người mới
Hai bộ này không hợp để đọc từ đầu đến cuối như một cuốn sách thường. Một số gợi ý:
- Với Kinh Thư, chọn đọc vài thiên tiêu biểu thay vì đọc hết: Nghiêu điển để thấy hình ảnh vua lý tưởng, Vô dật để thấy lời răn chăm chỉ, Tửu cáo để thấy một văn bản chính sự cụ thể.
- Khi bản dịch không ghi rõ thiên nào là kim văn, thiên nào là cổ văn, hãy tra thêm, vì điều này ảnh hưởng tới việc bạn dẫn câu đó như thế nào.
- Với Kinh Xuân Thu, đừng đọc kinh trơn. Hãy đọc Tả truyện, nơi có câu chuyện, rồi quay lại dòng kinh để thấy người chép sử đã nén câu chuyện ấy vào mấy chữ.
- Dùng một bảng niên biểu các nước thời Xuân Thu để không lẫn tên vua, tên nước.
- Đừng coi mọi chi tiết trong Tả truyện là sử chép chính xác. Đây là tác phẩm có nhiều đối thoại được dựng lại, giá trị lớn nhưng cần đọc có phê phán.
- Nếu bạn chỉ cần hiểu khái niệm Xuân Thu bút pháp cho bài học hay bài viết, vài ví dụ có chú giải là đủ, không cần đọc trọn kinh.
Đọc theo cách này, Kinh Thư và Kinh Xuân Thu không còn là hai khối văn bản khô khan. Chúng cho thấy người xưa nghĩ gì về quyền lực, về trách nhiệm của người cai trị, và về việc viết sử như một hành động có đạo đức.
Câu hỏi thường gặp
Kinh Thư và Thượng thư có phải là một không?
Phải. Thượng thư là tên gọi khác của Kinh Thư, thường được giải thích là sách đời thượng cổ. Trong sách cổ còn gọi đơn giản là Thư. Nội dung là văn kiện, lời huấn dụ, lời thề của các đời vua quan thượng cổ.
Có thật một phần Kinh Thư là do người đời sau soạn?
Đa số học giả hiện nay chấp nhận kết luận của Diêm Nhược Cừ đời Thanh rằng các thiên cổ văn trong bản Thượng thư lưu hành từ thời Đông Tấn là do người đời sau soạn. Phần kim văn khoảng hai mươi tám, hai mươi chín thiên được coi là có gốc cổ.
Kinh Xuân Thu ghi những năm nào?
Kinh Xuân Thu ghi việc từ năm đầu đời Lỗ Ẩn Công đến năm thứ mười bốn đời Lỗ Ai Công, khoảng năm 722 đến năm 481 TCN, tổng cộng 242 năm qua mười hai đời vua nước Lỗ.
Xuân Thu bút pháp là gì?
Là quan niệm cho rằng người chép Xuân Thu gửi lời khen chê vào cách dùng từng chữ: gọi tên hay không, gọi tước hay gọi trơn, dùng động từ nào. Quan niệm này ảnh hưởng tới cách viết sử theo lối Nho học ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
Tả truyện khác Kinh Xuân Thu thế nào?
Kinh Xuân Thu chỉ ghi vắn tắt vài chữ mỗi việc. Tả truyện kể chi tiết sự việc, nhân vật, lời nói đằng sau mỗi dòng kinh. Người đọc thường dùng Tả truyện để hiểu chuyện gì đã xảy ra, dùng Công Dương, Cốc Lương để hiểu ý chữ.
Người mới nên đọc Kinh Thư thiên nào trước?
Có thể bắt đầu với vài thiên tiêu biểu như Nghiêu điển, Vô dật, Tửu cáo, đọc trong bản có chú giải. Không cần đọc hết, và nên tra xem thiên mình đọc thuộc phần kim văn hay cổ văn.