NhoGiao.comNho Giáo
Tứ thư Ngũ kinh: đọc gì, đọc thế nào

Kinh Thi là gì: 305 bài Phong, Nhã, Tụng và vì sao Khổng Tử bảo học trò học Thi

Kinh Thi có 305 bài chia ba phần Phong, Nhã, Tụng. Bài giải thích nguồn gốc, các dòng truyền bản, lối phú tỷ hứng và cách người đọc hôm nay đến với Kinh Thi.

Wide view of a quiet lotus pond beside an old village temple of literature in Nghệ An, early morning mist over the water, a lone figure far away on a stone path

Kinh Thi là tuyển tập thơ ca cổ nhất còn lại của Trung Hoa, theo bản truyền đời nay gồm 305 bài, chia làm ba phần: Phong, Nhã và Tụng. Các bài thơ được cho là ra đời trong khoảng từ đầu nhà Chu đến giữa thời Xuân Thu, kéo dài vài trăm năm. Đây là bộ kinh duy nhất trong Ngũ kinh mà phần lớn nội dung là thơ, và cũng là bộ có nhiều bài nói về tình yêu, lao động, chia ly, rất gần đời thường.

Người Việt biết Kinh Thi nhiều hơn mình tưởng. Cụm "yểu điệu thục nữ" mà ai cũng dùng đến từ bài thơ đầu tiên của Kinh Thi. Bài này giới thiệu bộ sách: cấu trúc ba phần, chuyện Khổng Tử san định, các dòng truyền bản, lối viết phú tỷ hứng, lý do Nho gia coi đây là sách học làm người, và cách đọc Kinh Thi hôm nay.

Cấu trúc ba phần của Kinh Thi

Ba phần của Kinh Thi khác nhau về nguồn gốc, đối tượng và giọng thơ. Số bài trong bảng theo bản Mao Thi lưu hành phổ biến.

PhầnGồmSố bàiTính chất
Phong (Quốc phong)Ca dao của 15 vùng, như Chu Nam, Thiệu Nam, Bội, Dung, Vệ, Vương, Trịnh, Tề, Nguỵ, Đường, Tần…160Gần với dân ca: tình yêu, hôn nhân, lao dịch, nhớ nhà, châm biếm người cai trị
Tiểu nhãThơ dùng trong yến tiệc, nghi lễ của giới quý tộc74Có cả thơ yến ẩm, thơ ca ngợi lẫn thơ than thở, phê phán
Đại nhãThơ dùng trong triều hội, lễ lớn31Kể lại lịch sử lập nước nhà Chu, ca ngợi tổ tiên
TụngChu tụng, Lỗ tụng, Thương tụng40Nhạc ca dùng trong tế lễ tông miếu, trang nghiêm

Cộng lại được 305 bài. Ngoài ra bản truyền còn ghi tên sáu bài chỉ có tên mà không có lời, thường được gọi là "sinh thi", nên đôi khi bạn gặp con số 311. Phần lớn người đọc hôm nay nhớ đến Kinh Thi qua phần Phong, vì đó là phần có giọng tự nhiên, dễ cảm nhất.

Khổng Tử có san định Kinh Thi không

Sử ký của Tư Mã Thiên chép rằng thơ thời cổ có hơn ba nghìn bài, Khổng Tử bỏ những bài trùng lặp, chọn những bài hợp với lễ nghĩa, còn lại hơn ba trăm bài. Đây là thuyết "Khổng Tử san Thi" được nhắc nhiều trong sách xưa. Tuy vậy, từ khá sớm đã có học giả nghi ngờ, vì trong Luận ngữ Khổng Tử đã nói "Thi tam bách", tức ba trăm bài thơ, như một tập đã có sẵn. Ngoài ra, số bài thơ được các sách khác dẫn mà không có trong Kinh Thi khá ít, khó khớp với chuyện bỏ đi chín phần mười.

Ý kiến phổ biến hiện nay là Khổng Tử có thể đã chỉnh lý phần nhạc, sắp xếp lại, và dùng tập thơ làm sách dạy, nhưng tập thơ đã thành hình trước ông. Luận ngữ có ghi lời Khổng Tử rằng sau khi từ nước Vệ về nước Lỗ, nhạc mới được sửa cho đúng, phần Nhã và Tụng mới có chỗ đứng thích hợp.

Biết điều này để đọc Kinh Thi như một tuyển tập của cả một thời đại, chứ không phải một cuốn sách do Khổng Tử sáng tác hay chọn lọc từng bài theo tiêu chuẩn đạo đức. Nhiều bài thơ tình trong phần Phong rất tự nhiên, thậm chí táo bạo, và chính các nhà chú giải đời sau phải tìm cách giải thích chúng theo hướng đạo đức.

Các dòng truyền bản và chú giải

Bốn nhà truyền Thi đời Hán. Đời Hán có bốn dòng truyền dạy Kinh Thi: Lỗ thi, Tề thi, Hàn thi và Mao thi. Ba dòng đầu được triều đình lập bác sĩ, nhưng về sau thất truyền gần hết, chỉ còn sách Hàn thi ngoại truyện. Mao thi, tương truyền do Mao Hanh và Mao Trường truyền, lại là dòng còn lại tới nay.

Bản Kinh Thi ta đọc hôm nay là Mao thi. Vì vậy trong sách cổ, Kinh Thi còn được gọi là Mao thi. Mỗi bài trong bản này có một đoạn tựa ngắn nói bài thơ làm ra để làm gì, thường gắn bài thơ với một sự kiện hay một nhân vật lịch sử. Nhiều học giả hiện đại cho rằng các đoạn tựa này là cách giải thích của người đời sau, không phải hoàn cảnh thật của bài thơ.

Trịnh Huyền và Khổng Dĩnh Đạt. Cuối đời Hán, Trịnh Huyền viết chú giải bổ sung cho Mao thi. Đời Đường, bộ Mao thi chính nghĩa do Khổng Dĩnh Đạt chủ trì gom chú giải các đời làm chuẩn cho thi cử.

Chu Hy và Thi tập truyện. Đời Tống, Chu Hy soạn Thi tập truyện, mạnh dạn bỏ bớt nhiều lời tựa của Mao thi, đọc nhiều bài trong phần Phong như thơ tình của dân gian. Ở Việt Nam thời khoa cử, Thi tập truyện là sách chú giải được dùng phổ biến.

Phú, tỷ, hứng: ba lối viết cần biết khi đọc Kinh Thi

Truyền thống chú giải gọi ba lối viết của Kinh Thi là phú, tỷ, hứng. Phú là kể thẳng, tả thẳng sự việc. Tỷ là so sánh, mượn vật này để nói việc kia. Hứng là mở đầu bằng một hình ảnh thiên nhiên để gợi cảm xúc, rồi mới nói vào điều muốn nói. Ba lối này cùng với ba phần Phong, Nhã, Tụng được gọi chung là "lục nghĩa" của Thi.

Bài đầu tiên của Kinh Thi là bài Quan thư, ví dụ quen thuộc của lối hứng. Bài mở bằng tiếng chim thư cưu kêu "quan quan" trên bãi sông, rồi mới nói đến người con gái hiền thục là đôi lứa tốt của người quân tử. Hình ảnh đôi chim gợi ra chuyện đôi lứa. Câu "yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu" mà người Việt hay dùng chính là từ bài này. Trong Luận ngữ, Khổng Tử nhận xét bài Quan thư vui mà không dâm, buồn mà không đau thương.

Lối tỷ có thể thấy ở bài Thạc thử trong phần Nguỵ phong, mượn hình ảnh con chuột lớn ăn hết lúa để nói về kẻ bóc lột. Nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã chỉ ra rằng ca dao Việt cũng có những lối mở đầu bằng hình ảnh thiên nhiên rất gần với lối hứng, dù hai truyền thống phát triển độc lập. Đọc Kinh Thi với con mắt ấy, bạn sẽ thấy nó không xa lạ như tên gọi "kinh" khiến ta tưởng.

Vì sao Nho gia coi Kinh Thi là sách học làm người

Trong Luận ngữ có nhiều lần Khổng Tử nhắc tới việc học Thi. Ông khuyên con trai là Bá Ngư rằng không học Thi thì không có gì để nói, câu này nằm trong thiên Quý thị. Thời Xuân Thu, các sứ thần, quan lại hay dẫn thơ trong Kinh Thi để bày tỏ ý mình một cách tế nhị trong ngoại giao và yến tiệc, nên không thuộc Thi là khó giao tiếp trong giới có học.

Ở thiên Dương Hoá, Khổng Tử nói học Thi có thể làm cho lòng hứng khởi, giúp quan sát, giúp sống hoà hợp với người, giúp bày tỏ nỗi oán giận đúng mức, gần thì biết thờ cha, xa thì biết thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cây cỏ. Đây là một trong những đoạn nói rõ nhất cách Nho gia nhìn chức năng của thơ: vừa giáo dục cảm xúc, vừa mở rộng hiểu biết.

Ở thiên Vi chính, Khổng Tử tóm ba trăm bài thơ bằng một câu: "tư vô tà", nghĩa thường được hiểu là ý nghĩ không tà vạy. Các nhà chú giải về sau dựa vào câu này để đọc mọi bài thơ theo hướng đạo đức, kể cả những bài thơ tình. Người đọc hôm nay có thể vừa hiểu cách đọc của Nho gia, vừa đọc bài thơ như chính nó, hai cách đọc không loại trừ nhau.

Dấu vết Kinh Thi trong tiếng Việt và học vấn nhà Nho Việt

Ở Việt Nam thời khoa cử, Kinh Thi là một trong những bộ kinh học trò hay chọn chuyên sâu, thường học theo Thi tập truyện của Chu Hy. Nhưng dấu vết của Kinh Thi trong đời sống người Việt rộng hơn nhiều so với phạm vi trường thi, vì nhiều chữ trong đó đã đi vào tiếng nói hằng ngày qua con đường văn chương chữ Hán.

Ví dụ rõ nhất là chữ "vu quy" trong lễ vu quy của đám cưới. Chữ này có trong bài Đào yêu thuộc phần Chu Nam, bài thơ mở bằng hình ảnh cây đào non tươi tốt rồi nói đến người con gái về nhà chồng. Cụm "yểu điệu thục nữ" như đã nói đến từ bài Quan thư. Nhiều tên người, tên hiệu, tên nhà của các gia đình có học cũng lấy chữ từ các bài thơ trong Kinh Thi.

Biết những dấu vết này giúp bạn đọc Kinh Thi với cảm giác gần gũi: không phải một bộ kinh xa lạ, mà là nơi bắt nguồn của vài từ mình vẫn dùng. Với giáo viên Ngữ văn, đây cũng là cách dễ nhất để giới thiệu Kinh Thi cho học sinh, bắt đầu từ một chữ quen thay vì từ một định nghĩa khô.

Cách đọc Kinh Thi hôm nay

Kinh Thi có thể đọc như một bộ kinh, như một tập văn học, hay như một nguồn tư liệu về đời sống cổ đại. Một số gợi ý để bắt đầu:

  • Bắt đầu từ phần Quốc phong, chọn vài bài ngắn như Quan thư, Thạc thử, Kiêm gia để làm quen giọng thơ.
  • Đọc bản có nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ. Bản dịch thơ giúp cảm nhịp điệu, bản dịch nghĩa giúp hiểu đúng từng chữ.
  • Để ý phần chú về tên cây cỏ, chim muông, đồ dùng. Kinh Thi có rất nhiều tên gọi cổ mà nhiều khi chính người Trung Hoa hôm nay cũng phải tra.
  • Khi đọc lời tựa hay lời chú gắn bài thơ với một sự kiện, hãy coi đó là một cách giải thích, không nhất thiết là hoàn cảnh thật.
  • Đọc phần Nhã và Tụng sau, khi đã có chút kiến thức về lịch sử nhà Chu, vì nhiều bài nhắc đến tổ tiên, các đời vua và nghi lễ.
  • Nếu học Ngữ văn, có thể so sánh lối hứng trong Kinh Thi với lối mở đầu bằng thiên nhiên trong ca dao Việt; đó là bài tập thú vị mà không cần kiến thức chuyên sâu.

Kinh Thi không đòi bạn đọc hết 305 bài. Một vài chục bài đọc kỹ, có chú giải, đã đủ cho bạn hiểu vì sao người xưa đặt tập thơ này đứng đầu trong nhiều danh sách Ngũ kinh.

Câu hỏi thường gặp

Kinh Thi có bao nhiêu bài?

Theo bản Mao thi lưu hành hôm nay, Kinh Thi có 305 bài: 160 bài Quốc phong, 74 bài Tiểu nhã, 31 bài Đại nhã và 40 bài Tụng. Ngoài ra có sáu bài chỉ còn tên, nên đôi khi bạn gặp con số 311.

Phong, Nhã, Tụng khác nhau thế nào?

Phong gần với dân ca các vùng, nói về tình yêu, lao động, nhớ nhà. Nhã là thơ dùng trong yến tiệc và triều hội của giới quý tộc. Tụng là nhạc ca trang nghiêm dùng trong tế lễ tông miếu.

Có phải Khổng Tử chọn 305 bài từ ba nghìn bài?

Sử ký chép như vậy, nhưng nhiều học giả từ xưa đã nghi. Trong Luận ngữ Khổng Tử đã nói đến ba trăm bài thơ như một tập có sẵn. Ý kiến phổ biến là ông chỉnh lý phần nhạc và dùng tập thơ làm sách dạy.

Câu "yểu điệu thục nữ" có từ đâu?

Câu này đến từ bài Quan thư, bài mở đầu của Kinh Thi, thuộc phần Chu Nam trong Quốc phong. Bài thơ mở bằng tiếng chim thư cưu trên bãi sông rồi nói về người con gái hiền thục là đôi lứa tốt của người quân tử.

Phú, tỷ, hứng là gì?

Đó là ba lối viết của Kinh Thi theo truyền thống chú giải. Phú là kể, tả thẳng. Tỷ là so sánh, mượn vật để nói việc. Hứng là mở bằng hình ảnh thiên nhiên để gợi cảm xúc rồi mới vào điều muốn nói.

Vì sao Kinh Thi còn được gọi là Mao thi?

Đời Hán có bốn dòng truyền dạy Kinh Thi. Ba dòng Lỗ, Tề, Hàn về sau thất truyền gần hết, chỉ dòng Mao thi còn lại đầy đủ. Bản Kinh Thi đọc hôm nay chính là bản của dòng Mao thi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183