NhoGiao.comNho Giáo
Khoa cử, học vị và trạng nguyên

Đốc học, giáo thụ, huấn đạo: trường công ở tỉnh, phủ, huyện thời Nguyễn

Thời Nguyễn, mỗi tỉnh có đốc học, mỗi phủ có giáo thụ, mỗi huyện có huấn đạo. Bài giải thích hệ thống quan học ấy, nối trường làng với khoa thi Hương ra sao.

A small rural school yard in Quang Tri at dusk, an old tiled-roof house with wooden doors open, a row of low wooden benches inside, children seen from behind, soft light

Thời Nguyễn, nhà nước đặt các chức quan học ở địa phương theo ba cấp: đốc học ở tỉnh, giáo thụ ở phủ, huấn đạo ở huyện; họ trông coi trường công của cấp mình, dạy học trò và tổ chức các kỳ khảo hạch để chọn người đủ sức dự thi Hương. Đây là tầng nối giữa trường làng của các thầy đồ với khoa cử của triều đình, tầng mà sách phổ thông ít nhắc nhưng lại là nơi phần lớn sĩ tử đi qua.

Bài này giải thích từng chức quan học, việc học ở trường công, mối liên hệ với trường làng và với khoa thi Hương. Phần về các nghi lễ tạ thầy, xin chữ đầu năm thuộc những chủ đề phong tục riêng; ở đây chỉ bàn thiết chế giáo dục. Các triều trước cũng có quan học địa phương với tên gọi khác nhau; bài chủ yếu theo mô hình thời Nguyễn vì tư liệu rõ hơn.

Ba cấp quan học thời Nguyễn

Bảng dưới theo mô hình thường được mô tả trong sách về giáo dục triều Nguyễn. Số người, phẩm hàm và phạm vi cụ thể có thay đổi theo thời gian và theo quy mô từng địa phương.

ChứcCấpViệc chínhThường là ai
Đốc họcTỉnhTrông coi việc học toàn tỉnh, dạy ở trường tỉnh, giám sát quan học cấp dưới, tổ chức khảo hạchNgười đỗ tiến sĩ, phó bảng hoặc cử nhân có tiếng
Giáo thụPhủDạy ở trường phủ, khảo hạch học trò trong phủThường là cử nhân
Huấn đạoHuyệnDạy ở trường huyện, khảo hạch học trò trong huyệnThường là cử nhân hoặc tú tài có học lực

Ba chức này là quan chức nhà nước, có phẩm hàm và lương bổng, khác với thầy đồ dạy tư ở làng. Với nhiều người đỗ cử nhân mà chưa đỗ thi Hội, nhận chức giáo thụ, huấn đạo là con đường ra làm việc phổ biến, vừa có địa vị vừa giữ được nghề học.

Trường làng: nơi bắt đầu của mọi sĩ tử

Trước khi tới trường công, hầu hết học trò bắt đầu ở trường làng. Trường làng thường là một gian nhà của thầy đồ, có khi là nhà riêng của một gia đình khá giả mời thầy về dạy con cháu, có khi là chỗ ở đình, chùa. Thầy đồ là người có học, nhiều người từng đi thi mà chưa đỗ cao, hoặc đỗ tú tài, cử nhân mà không ra làm quan.

Ở trường làng, trẻ học từ nhận mặt chữ, tập viết, học các sách nhập môn, rồi dần lên đọc Tứ thư, Ngũ kinh và tập làm câu đối, làm thơ. Không có lớp học theo độ tuổi như ngày nay; mỗi trò học theo sức mình, thầy giảng riêng cho từng nhóm. Học trò lớn kèm học trò nhỏ, và những trò giỏi được thầy chú ý đặc biệt.

Trường làng không do nhà nước quản lý trực tiếp, thầy đồ sống nhờ vào sự đóng góp của gia đình học trò và của làng. Chất lượng mỗi trường phụ thuộc rất nhiều vào thầy. Những thầy có tiếng thu hút học trò từ nhiều nơi về, có thầy dạy ra nhiều thế hệ người đỗ đạt và được nhắc tên rất lâu sau.

Quan hệ thầy trò ở trường làng rất gần gũi và bền chặt. Học trò theo thầy nhiều năm, coi thầy như người trong nhà, và đạo lý tôn sư được thể hiện qua những việc thường ngày như đỡ đần thầy, giữ phép tắc trong lớp. Ngược lại, thầy chịu trách nhiệm không chỉ về chữ nghĩa mà cả về nết ăn nết ở của trò, đúng với quan niệm học để làm người của Nho gia.

Trường làng và trường công khác nhau ở đâu

Để dễ hình dung hai loại trường mà một sĩ tử thời Nguyễn có thể đi qua, bảng dưới đặt chúng cạnh nhau. Đây là mô tả khái quát; trên thực tế ranh giới giữa hai loại không phải lúc nào cũng rạch ròi.

Tiêu chíTrường làng (trường tư)Trường công (huyện, phủ, tỉnh)
Người dạyThầy đồ, có thể là tú tài, cử nhân hoặc người học chưa đỗQuan học do triều đình bổ: huấn đạo, giáo thụ, đốc học
Người họcTrẻ em mới học đến người lớn luyện thi, mọi trình độHọc trò đã có nền tảng, chuẩn bị dự thi
Nội dungTừ nhận mặt chữ, sách nhập môn đến kinh điển và tập làm vănKinh điển, sử và luyện các thể văn trường thi
Nguồn nuôiGia đình học trò và làng xã đóng gópNgân sách nhà nước, quan học có lương bổng
Đánh giáThầy tự kiểm tra, khen chê theo cách riêngCó các kỳ khảo khoá định kỳ, kết quả dùng để chọn người dự thi Hương

Nhìn bảng có thể thấy hai loại trường bổ sung cho nhau: trường làng lo phần nền rộng khắp, trường công lo phần chuẩn hoá và chọn lọc. Thiếu một trong hai, khoa cử khó có đủ người đi thi mỗi khoa.

Trường công làm gì khác trường làng

Khi đã có nền tảng ở trường làng, học trò khá có thể vào học ở trường huyện, trường phủ hay trường tỉnh. Khác với trường làng, ở trường công việc học tập trung hơn vào chuẩn bị thi cử: thầy là quan học có học vị rõ ràng, có đề tập theo đúng thể văn trường thi, có kỳ khảo hạch định kỳ để đánh giá.

Một chức năng quan trọng của trường công là khảo khoá, tức các kỳ khảo hạch học trò. Theo các mô tả, quan học ở các cấp tổ chức những kỳ khảo định kỳ trong năm, chấm bài, xếp loại học trò. Trước mỗi khoa thi Hương, kết quả khảo hạch là căn cứ để lập danh sách người được dự thi. Như vậy, quan học địa phương đóng vai trò như một bộ lọc đầu tiên của khoa cử.

Trường công cũng là nơi phổ biến sách học chính thức. Sách kinh điển và sách học do nhà nước in được đưa về các trường, góp phần thống nhất nội dung học trong cả nước. Ngoài ra, quan học còn có trách nhiệm về giáo hoá ở địa phương theo quan niệm Nho giáo, như khuyến khích việc học, nêu gương người hiếu học, dù mức độ thực hiện tuỳ người và tuỳ nơi.

Con đường của một học trò từ làng tới trường thi Hương

Ghép lại từ các mô tả về giáo dục thời Nguyễn, con đường điển hình của một học trò có thể hình dung như sau. Không phải ai cũng đi đủ các bước; nhiều người học thẳng với thầy giỏi ở làng rồi vào khảo hạch.

  1. Vào học trường làng từ nhỏ, học chữ, sách nhập môn và lễ phép với thầy.
  2. Lên đọc Tứ thư, Ngũ kinh, tập làm câu đối, thơ, bắt đầu tập các thể văn thi cử ở mức đơn giản.
  3. Nếu học khá, theo học thêm thầy giỏi ở nơi khác, hoặc vào trường huyện, trường phủ để luyện văn sâu hơn.
  4. Dự các kỳ khảo khoá do huấn đạo, giáo thụ, đốc học tổ chức; đạt yêu cầu thì có tên trong danh sách được dự thi Hương.
  5. Lên trường thi Hương của vùng, thi qua các trường; đỗ tú tài thì về học tiếp, đỗ cử nhân thì chuẩn bị thi Hội.
  6. Dù đỗ hay không, nhiều người quay lại làm thầy ở làng hoặc nhận chức quan học, tiếp tục dạy lớp sau.

Vòng tuần hoàn ấy giải thích vì sao văn hoá Nho học thấm sâu vào làng xã Việt Nam: người học thành người dạy, và mạng lưới thầy trò trải từ làng lên tỉnh, lên kinh đô.

Vai trò của quan học trong xã hội

Người thầy của địa phương. Đốc học, giáo thụ, huấn đạo vừa là quan vừa là thầy. Ở nhiều nơi, họ là người có học vấn cao nhất của địa phương, được trọng vọng trong các việc liên quan tới học hành, lễ nghi.

Cầu nối với triều đình. Quan học báo cáo việc học lên trên, nhận sách, nhận chỉ thị về khoa cử, và đưa danh sách học trò dự thi lên. Nhờ vậy việc học ở địa phương gắn với chuẩn mực chung của cả nước.

Nơi nhiều nhà nho chọn đứng. Không ít người đỗ đạt chọn làm quan học thay vì ra làm quan cai trị, vì hợp với chí hướng dạy người. Trong đời sống của nhiều danh nho, chức đốc học hay giáo thụ là một chặng đáng nhớ.

Giới hạn của hệ thống. Số trường công và số quan học có hạn so với số người đi học; phần lớn việc dạy vẫn dựa vào trường làng. Chất lượng trường công cũng không đồng đều giữa các nơi.

Hệ thống ấy kết thúc thế nào

Đầu thế kỷ 20, khi khoa cử Nho học dần bị bãi bỏ và hệ thống trường học kiểu mới được lập ra, các chức đốc học, giáo thụ, huấn đạo cũng mất dần chức năng cũ. Trường làng dạy chữ Hán thưa dần, thay vào đó là trường dạy chữ Quốc ngữ và các môn học mới. Nhiều thầy đồ chuyển sang dạy chữ Quốc ngữ, có người tham gia các phong trào canh tân học vấn.

Tuy vậy, ký ức về hệ thống ấy còn để lại trong ngôn ngữ và văn hoá. Chữ "huấn đạo", "giáo thụ" vẫn xuất hiện trong văn học, trong tên gọi kèm theo của các nhân vật lịch sử. Truyền thống coi người thầy là người có vị trí đặc biệt trong làng xã, quan niệm rằng nhà nước có trách nhiệm với việc học ở từng địa phương, cũng có phần bắt nguồn từ đây.

Hiểu về quan học địa phương giúp bạn đọc tiểu sử nhà nho chính xác hơn. Khi gặp dòng "từng làm huấn đạo huyện…", "làm đốc học tỉnh…", bạn sẽ biết người đó làm công việc gì, ở cấp nào, và vì sao đó là một lựa chọn có ý nghĩa với người theo nghề học.

Nếu muốn tìm hiểu sâu hơn, bạn có thể đọc các công trình về lịch sử giáo dục Việt Nam thời phong kiến, nơi các chức quan học, chế độ khảo hạch và đời sống của thầy trò được mô tả kỹ, kèm nguồn tư liệu gốc để đối chiếu.

Câu hỏi thường gặp

Đốc học là chức gì?

Đốc học là quan học đứng đầu việc học của một tỉnh thời Nguyễn, dạy ở trường tỉnh, giám sát quan học cấp dưới và tổ chức khảo hạch học trò. Người giữ chức thường đỗ tiến sĩ, phó bảng hoặc cử nhân có tiếng.

Giáo thụ và huấn đạo khác nhau thế nào?

Giáo thụ là quan học ở cấp phủ, huấn đạo là quan học ở cấp huyện thời Nguyễn. Cả hai đều dạy ở trường công của cấp mình và khảo hạch học trò, khác nhau ở phạm vi phụ trách.

Thầy đồ có phải là quan học không?

Không. Thầy đồ dạy tư ở trường làng, sống nhờ đóng góp của gia đình học trò và làng xã. Quan học như đốc học, giáo thụ, huấn đạo là quan chức nhà nước có phẩm hàm và lương bổng.

Khảo khoá là gì?

Khảo khoá là các kỳ khảo hạch học trò do quan học địa phương tổ chức. Kết quả khảo hạch là căn cứ để lập danh sách người được dự thi Hương, nên đây là bộ lọc đầu tiên của khoa cử.

Người đỗ cử nhân thường làm gì nếu chưa đỗ thi Hội?

Nhiều người nhận chức quan học như giáo thụ, huấn đạo, hoặc được bổ chức quan nhỏ, có người về làng mở trường dạy học. Họ vẫn có thể tiếp tục dự thi Hội ở các khoa sau.

Các triều trước thời Nguyễn có quan học địa phương không?

Có, các triều trước cũng đặt quan trông coi việc học ở địa phương, nhưng tên gọi và tổ chức khác nhau theo thời. Bài này chủ yếu theo mô hình thời Nguyễn vì tư liệu về thời này rõ ràng hơn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183