NhoGiao.comNho Giáo
Tứ thư Ngũ kinh: đọc gì, đọc thế nào

Chu Hy và Tứ thư tập chú: bộ chú giải trở thành sách thi suốt nhiều thế kỷ

Tứ thư tập chú của Chu Hy gom chú giải bốn cuốn Tứ thư theo lối Lý học, rồi thành chuẩn thi từ đời Nguyên. Bài giải thích bộ sách và vì sao nó bị tranh luận.

Lamplit night scene in an old wooden house in Quảng Ngãi, a seated figure seen from behind leaning over a low desk with an open stitched volume, shadows on the wall

Tứ thư tập chú, tên đầy đủ là Tứ thư chương cú tập chú, là bộ chú giải của Chu Hy cho Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử; từ đời Nguyên, bộ sách này trở thành cách hiểu chuẩn của khoa cử và giữ vị trí ấy suốt nhiều thế kỷ ở Trung Hoa, Việt Nam và các nước Đông Á. Nhiều thế hệ nhà Nho, vì vậy, đã đọc Khổng Tử qua đôi mắt của Chu Hy.

Với người đọc hôm nay, biết về bộ chú giải này có ích theo hai cách. Thứ nhất, phần lớn bản dịch Tứ thư sang tiếng Việt dựa trên cách hiểu của Chu Hy, nên biết nó giúp bạn nhận ra chỗ nào là lời kinh, chỗ nào là lời giải. Thứ hai, những tranh luận quanh Chu Hy cho thấy kinh điển không bao giờ chỉ có một cách đọc.

Chu Hy là ai trong lịch sử Nho học

Chu Hy sống vào đời Nam Tống, từ năm 1130 đến năm 1200. Ông làm quan nhiều nơi nhưng phần lớn đời dành cho việc dạy học, viết sách và chú giải kinh điển. Ông kế thừa tư tưởng của anh em Trình Hạo, Trình Di và một số nhà Nho đời Bắc Tống, gom lại thành một hệ thống mà đời sau gọi là Lý học, hay Trình Chu lý học.

Ở mức người mới cần biết, Lý học cho rằng mọi sự vật đều có cái lý của nó, con người cần tìm hiểu cái lý ấy qua việc học, suy xét sự vật, rồi sửa mình cho hợp với lý. Đây là cách Chu Hy hiểu các chữ cách vật, trí tri trong sách Đại học. Phần vũ trụ luận của Tống Nho về Thái cực, âm dương thuộc một chuyên đề khác; ở đây chỉ nói Lý học như một con đường học vấn và đạo đức.

Chu Hy để lại rất nhiều tác phẩm, từ chú giải Kinh Thi, Kinh Dịch đến sách về gia lễ và các ghi chép lời giảng do học trò chép lại. Nhưng tác phẩm ảnh hưởng lớn nhất, đi vào đời sống của hàng triệu học trò Đông Á, là bộ chú giải Tứ thư.

Bộ Tứ thư chương cú tập chú gồm những gì

Đại học chương cú. Chu Hy chia Đại học thành một chương kinh và mười chương truyện, sắp xếp lại thứ tự đoạn văn và viết bổ sung một đoạn giải thích cách vật trí tri mà ông cho là đã mất. Đây là phần gây tranh luận nhiều nhất của cả bộ.

Trung dung chương cú. Ông chia Trung dung thành 33 chương, viết lời tựa giải thích vì sao sách quan trọng, và chú giải từng câu theo hệ khái niệm của Lý học.

Luận ngữ tập chú và Mạnh Tử tập chú. Với hai sách này, Chu Hy giữ nguyên văn bản, gom chú giải của các nhà Nho trước, chủ yếu là các nhà Tống Nho, chọn lọc rồi thêm lời bàn của mình. Chữ "tập chú" nghĩa là gom chú.

Thứ tự đọc. Chu Hy khuyên đọc Đại học trước để có cái khung, rồi Luận ngữ để lập gốc, Mạnh Tử để thấy chỗ phát triển, cuối cùng là Trung dung để hiểu chỗ tinh vi. Lời khuyên này được ghi trong các tập lời giảng của ông và trở thành trình tự học phổ biến.

Văn chú ngắn, rõ. So với nhiều chú giải đời trước, chú của Chu Hy ngắn gọn, giải nghĩa từ trước rồi mới giảng ý. Đây là một lý do bộ sách dễ dùng làm sách dạy, sách thi.

Từ một bộ sách tư nhân trở thành chuẩn của khoa cử

Lúc Chu Hy còn sống, học thuyết của ông có thời bị triều đình cấm, gọi là "nguỵ học". Chỉ sau khi ông mất, vị thế mới dần thay đổi. Đến đời Nguyên, từ đầu thế kỷ 14, triều đình quy định thi Tứ thư theo chú của Chu Hy. Từ đó, bộ chú giải này thành cách hiểu chuẩn: thí sinh giảng giải câu kinh phải theo ý Chu Hy, lệch ra là dễ bị đánh hỏng.

Đời Minh, dưới thời Vĩnh Lạc, triều đình cho biên soạn Tứ thư đại toàn, Ngũ kinh đại toàn và Tính lý đại toàn, gom chú giải theo dòng Trình Chu làm sách chuẩn. Đời Thanh tiếp tục dùng Tứ thư theo chú Chu Hy cho đến khi khoa cử Trung Hoa bị bãi bỏ đầu thế kỷ 20.

Ở Việt Nam, các khoa thi Nho học thời Lê và thời Nguyễn cũng lấy Tứ thư theo cách hiểu của Chu Hy làm chuẩn. Học trò học thuộc cả nguyên văn và lời chú. Nhiều thành ngữ, cách giảng chữ nghĩa mà nhà Nho Việt truyền lại cho con cháu thật ra là cách giảng của Chu Hy, dù người nói không nhắc tên ông. Biết điều này giúp bạn hiểu vì sao "đạo Nho" trong ký ức người Việt mang đậm màu Tống Nho chứ không chỉ là Khổng Tử thời Xuân Thu.

Đọc lời kinh và lời chú: phân biệt thế nào

Khi cầm một bản Tứ thư có chú giải, người mới hay lẫn lời kinh với lời chú. Bảng dưới gợi ý cách nhận ra và đọc từng lớp.

Lớp văn bảnThường được trình bày thế nàoNên đọc với thái độ nào
Nguyên văn kinhChữ lớn, đứng đầu mỗi đoạn, có phiên âm và dịch nghĩaĐọc chậm, cố hiểu theo đúng chữ
Chú của Chu HyChữ nhỏ hơn hoặc đặt sau, thường mở bằng giải nghĩa từCoi là một cách hiểu có uy tín, có thể so với cách khác
Chú của các nhà Nho được Chu Hy dẫnThường có ghi "Trình Tử nói", "họ Phạm nói"…Biết đây là ý kiến được chọn lọc, không phải lời kinh
Lời bàn của dịch giả hiện đạiPhần "lời bàn", "chú thích" ở cuối đoạnThường dễ hiểu nhất nhưng cũng mang quan điểm riêng của dịch giả

Một thói quen tốt là đánh dấu bằng màu khác nhau cho ba lớp này trong vài trang đầu. Sau một thời gian, mắt bạn sẽ tự phân biệt, và bạn sẽ thấy nhiều câu "Khổng Tử nói" mà mình từng nghe thật ra là lời giải của người đời sau.

Chu Hy dạy đọc sách thế nào

Đọc theo thứ tự, tiến từng bước. Học trò đời sau tóm lời Chu Hy về việc đọc sách thành mấy ý, ý đầu là tuần tự tiệm tiến: đọc sách nào xong sách ấy, hiểu đoạn trước rồi mới sang đoạn sau, không tham nhiều.

Đọc kỹ, nghĩ sâu. Ý thứ hai là thục độc tinh tư: đọc đến thuộc, rồi suy nghĩ kỹ từng câu. Với Chu Hy, thuộc lòng không phải mục đích mà là điều kiện để có thể suy nghĩ về câu chữ mọi lúc.

Mở lòng, đừng định kiến. Một ý khác là hư tâm: để lòng trống trải khi đọc, không đem sẵn ý mình áp vào sách. Điều thú vị là chính các nhà phê phán Chu Hy về sau lại trách ông đã đem Lý học áp vào kinh điển.

Đem sách vào mình. Chu Hy cũng nhấn mạnh việc đối chiếu lời sách với bản thân, gọi là thiết kỷ thể sát. Đọc một câu về chữ hiếu thì xét xem mình đối xử với cha mẹ ra sao, không chỉ hiểu nghĩa câu.

Áp dụng cho người đọc hôm nay. Những lời khuyên này không cần gắn với Lý học vẫn dùng được: đọc ít mà kỹ, đọc nhiều lượt, ghi lại câu mình chưa hiểu, và tự hỏi câu đó nói gì với đời sống của mình. Học sinh ôn thi hay người đi làm đọc sách vào buổi tối đều có thể thử.

Những tiếng nói phản bác Chu Hy

Ngay đời Tống, Lục Cửu Uyên đã tranh luận với Chu Hy về phương pháp học: Chu Hy nhấn vào việc đọc sách, tìm lý trong sự vật; Lục Cửu Uyên nhấn vào việc tìm lại cái tâm. Đến đời Minh, Vương Dương Minh phát triển hướng này thành Tâm học, phản đối việc Chu Hy sắp xếp lại sách Đại học và chủ trương trở về bản cũ trong Lễ ký.

Đời Thanh, nhiều học giả theo lối khảo chứng, như Đới Chấn, phê phán Lý học Tống Nho là gán vào kinh điển những khái niệm không có trong văn bản gốc. Họ chủ trương giải nghĩa kinh điển bằng ngữ văn học, âm vận học, đối chiếu văn bản cổ. Một số phê phán còn cho rằng việc dùng một bộ chú làm chuẩn thi đã làm cho tư duy học trò bị khuôn vào một lối.

Ở Việt Nam đầu thế kỷ 20, khi phong trào Duy Tân phê phán lối học khoa cử, cái bị nhắm tới phần lớn là lối học thuộc lòng kinh điển và lời chú để đi thi, chứ không hẳn là bản thân Khổng Tử. Đọc các ý kiến phản bác giúp bạn nhìn Chu Hy công bằng hơn: một nhà Nho có tầm ảnh hưởng hiếm có, đồng thời là một cách đọc trong nhiều cách đọc.

Dùng Tứ thư tập chú khi đọc hôm nay

Nếu bạn đang đọc Tứ thư qua một bản dịch tiếng Việt, mấy gợi ý dưới đây giúp tận dụng bộ chú giải mà không bị nó dẫn đi một chiều:

  • Xem lời nói đầu của bản dịch để biết dịch giả theo chú của Chu Hy hay theo cách hiểu khác.
  • Khi một câu có hai cách hiểu, như chữ thân dân hay tân dân trong Đại học, hãy ghi lại cả hai thay vì chọn ngay.
  • Đọc đoạn bổ sung của Chu Hy trong Đại học như một văn bản của ông, không phải lời kinh.
  • Với Luận ngữ, so lời chú của Chu Hy với ngữ cảnh của chính đoạn văn; đôi khi lời chú mang khái niệm Lý học vào một câu rất đời thường.
  • Nếu có điều kiện, đọc thêm một bản dịch không theo Chu Hy để thấy sự khác biệt.
  • Khi trích dẫn trong bài viết, ghi rõ ý đó là của kinh văn hay của chú giải.

Làm vậy, bạn vừa thấy được vì sao Chu Hy được tôn trọng suốt nhiều thế kỷ, vừa giữ được quyền tự đọc kinh điển của chính mình.

Câu hỏi thường gặp

Tứ thư tập chú gồm những phần nào?

Gồm Đại học chương cú, Trung dung chương cú, Luận ngữ tập chú và Mạnh Tử tập chú. Với Đại học và Trung dung, Chu Hy chia lại chương; với Luận ngữ và Mạnh Tử, ông gom chú giải của các nhà Nho trước và thêm lời bàn.

Chu Hy sống vào thời nào?

Chu Hy sống vào đời Nam Tống, từ năm 1130 đến năm 1200. Ông kế thừa tư tưởng của anh em họ Trình và xây dựng hệ thống Lý học, đời sau gọi là Trình Chu lý học.

Từ khi nào Tứ thư tập chú thành sách thi?

Từ đời Nguyên, đầu thế kỷ 14, triều đình quy định thi Tứ thư theo chú của Chu Hy. Các đời Minh, Thanh tiếp tục, và các khoa thi Nho học ở Việt Nam thời Lê, Nguyễn cũng theo cách hiểu này.

Vì sao bản Đại học của Chu Hy bị phản đối?

Vì Chu Hy sắp xếp lại thứ tự đoạn văn và tự viết bổ sung một đoạn về cách vật trí tri. Vương Dương Minh và nhiều học giả cho rằng nên giữ bản cũ trong Lễ ký, không nên can thiệp vào văn bản kinh.

Bản dịch Tứ thư tiếng Việt có theo Chu Hy không?

Phần lớn bản dịch quen thuộc dựa nhiều vào cách hiểu của Chu Hy, vì đó là chuẩn của nhà Nho Việt xưa. Tuy vậy mỗi dịch giả có lời bàn riêng, nên hãy đọc lời nói đầu để biết bản mình đang dùng theo hướng nào.

Đọc Tứ thư có cần đọc kèm chú giải không?

Nên đọc kèm, vì văn kinh rất cô đọng và nhiều chữ có nghĩa cổ. Nhưng hãy phân biệt lời kinh với lời chú, và nhớ rằng chú giải dù có uy tín vẫn là một cách hiểu, không phải lời của chính Khổng Tử.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183