NhoGiao.comNho Giáo
Khoa cử, học vị và trạng nguyên

Bài thi thời xưa viết gì: kinh nghĩa, chế chiếu biểu, thơ phú và văn sách

Sĩ tử xưa phải viết bốn loại bài: kinh nghĩa, chế chiếu biểu, thơ phú và văn sách. Bài giải thích mỗi thể văn đòi hỏi gì và vì sao khoa cử chọn những thể ấy.

Close view of a scholar hand holding a fine brush above a sheet of rice paper with blurred strokes, an ink stone and water dropper on a dark wooden desk, window light

Bài thi trong khoa cử Nho học gồm bốn nhóm thể văn chính: kinh nghĩa (giải thích một câu kinh điển), chế – chiếu – biểu (văn bản hành chính của triều đình), thơ phú (văn chương có niêm luật) và văn sách (trả lời câu hỏi về kinh sử và việc đời). Mỗi nhóm kiểm tra một năng lực khác nhau mà người làm quan thời đó được cho là cần có: thuộc và hiểu kinh điển, soạn được giấy tờ nhà nước, viết văn có phép tắc, và bàn được việc nước.

Nhiều người hôm nay hình dung bài thi xưa chỉ là "làm thơ" hoặc "viết chữ đẹp". Bài này mô tả từng thể văn ở mức đủ để bạn hiểu khi đọc tiểu sử, sách giáo khoa hay văn chương có nhắc đến trường thi. Thứ tự các thể văn trong từng trường thi thay đổi theo triều, nên bài không gắn cố định thể nào với trường nào.

Kinh nghĩa: giảng một câu kinh cho ra lẽ

Đề kinh nghĩa là một câu hoặc một đoạn ngắn lấy từ Tứ thư, Ngũ kinh. Sĩ tử phải viết một bài giải thích ý nghĩa câu ấy theo cách hiểu chính thống của Nho học, thường dựa vào chú giải của Chu Hy và các nhà Tống Nho. Thể văn này đòi hỏi trước hết là thuộc kinh điển: phải biết câu đề nằm ở đâu, đoạn trước đoạn sau nói gì, để không giải sai ngữ cảnh.

Bài kinh nghĩa có bố cục khá chặt. Các sách khảo cứu thường kể những phần như phá đề (mở ra ý chính của đề trong vài câu), thừa đề (nối tiếp, làm rõ thêm), khởi giảng (bắt đầu bàn), rồi các đoạn bàn sâu và phần kết. Nhiều đoạn viết theo lối đối nhau từng vế, nên vừa cần ý đúng vừa cần lời cân. Khoa cử Trung Hoa thời Minh – Thanh có kiểu bài tám vế rất nổi tiếng; kinh nghĩa ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của lối ấy nhưng có cách gọi và cách sắp xếp riêng theo thời.

Kinh nghĩa thường đặt ở trường đầu tiên, nên có vai trò sàng lọc mạnh nhất. Người không vững kinh điển gần như không thể đi tiếp. Đây cũng là lý do việc học thời xưa dành rất nhiều năm cho việc đọc thuộc và nghe thầy giảng Tứ thư, Ngũ kinh trước khi tập làm các thể văn khác.

Chế, chiếu, biểu: tập viết văn bản của triều đình

Chiếu. Là văn bản nhà vua ban xuống để công bố một việc hay một mệnh lệnh. Ở trường thi, sĩ tử được giao đề như thể mình soạn chiếu thay vua về một việc nào đó, phải dùng giọng của người trên nói với thần dân.

Chế. Là văn bản dùng khi nhà vua phong chức, ban tước hay khen thưởng một người. Bài chế đòi hỏi lời trang trọng, nêu được công trạng và ý nghĩa của việc phong thưởng.

Biểu. Là văn bản quan lại dâng lên vua, chẳng hạn để tạ ơn, chúc mừng hay trình bày một việc. Giọng văn ngược với chiếu: người dưới nói với người trên, lời lẽ khiêm cung.

Lối văn tứ lục. Ba thể này thường viết theo lối biền ngẫu, câu đối nhau từng cặp, nhiều câu theo nhịp bốn chữ và sáu chữ nên còn gọi là văn tứ lục. Người viết phải chọn điển cố hợp, đối chỉnh, lại giữ đúng thể thức xưng hô của từng loại văn bản.

Vì sao phải thi. Người đỗ đạt sẽ làm quan, mà công việc hằng ngày của quan văn là soạn, đọc, trình các loại giấy tờ. Bài chế chiếu biểu vì thế là bài kiểm tra kỹ năng nghề nghiệp, không chỉ là bài văn chương.

Thơ và phú: văn chương có niêm luật

Phần thơ ở trường thi thường là thơ Đường luật, bài tám câu với luật bằng trắc, niêm, đối, vần chặt chẽ. Đề thơ có thể là một câu, một cảnh, một ý trong kinh sử. Bài thơ thi khó ở chỗ phải vừa đúng luật, vừa đúng ý đề, lại không được dùng chữ phạm húy hay chữ kém trang trọng. Chỉ cần sai một chữ về luật là bài có thể bị đánh hỏng.

Phú là thể văn dài hơn, có vần, dùng để tả cảnh, bàn việc hay ca ngợi. Phú thi cử thường theo những thể có quy định về số vần và cách gieo vần, đòi hỏi vốn chữ, vốn điển cố phong phú. Người giỏi phú phải biết dàn ý thành nhiều đoạn, mỗi đoạn một vần, mà mạch văn vẫn liền.

Thơ phú trong khoa cử nhiều lần bị đem ra tranh luận. Có triều tăng vai trò của thơ phú, có triều giảm, có giai đoạn bỏ hẳn ở một số trường. Người bênh vực cho rằng thơ phú rèn sự tinh tế của ngôn ngữ, cần cho người làm văn bản nhà nước; người phản đối cho rằng nó khuyến khích lối học hoa mỹ, xa thực tế. Cuộc tranh luận này kéo dài tới tận cuối thời khoa cử.

Văn sách: bàn việc xưa, việc nay

Văn sách là thể văn trả lời câu hỏi. Đề văn sách thường gồm nhiều câu hỏi nối nhau về một chủ đề: một vấn đề trong kinh điển, một giai đoạn lịch sử, một việc trị nước như thuế khoá, binh bị, thuỷ lợi, dùng người. Các sách khảo cứu hay chia thành văn sách hỏi về việc xưa (cổ văn) và văn sách hỏi về việc đương thời (kim văn).

Bài văn sách phải mở bằng lời đáp lễ đúng thể thức, rồi lần lượt trả lời từng câu hỏi, dẫn kinh sử làm chứng, sau đó đưa ra kiến giải của người viết. Một bài văn sách tốt cho thấy người viết đọc rộng, nhớ sử, và có khả năng suy nghĩ về việc thực. Vì vậy văn sách thường được đặt ở trường cuối thi Hương, thi Hội, và là thể duy nhất hoặc chủ yếu ở thi Đình.

Ngày nay, văn sách thi Đình còn lưu lại là nguồn tư liệu đáng chú ý: qua câu hỏi của nhà vua và câu trả lời của sĩ tử, người đọc thấy được triều đình thời ấy lo lắng điều gì và tầng lớp nho sĩ nghĩ gì về việc nước. Nhiều công trình đã dịch và giới thiệu các bài văn sách tiêu biểu.

Bốn nhóm thể văn và năng lực được kiểm tra

Bảng dưới gom lại để bạn dễ nhớ. Đây là cách khái quát; trong thực tế mỗi triều có điều chỉnh riêng.

Thể vănĐề thường làNăng lực kiểm traLỗi hay khiến bài bị đánh hỏng
Kinh nghĩaMột câu trong Tứ thư, Ngũ kinhThuộc và hiểu kinh điển theo chú giải chính thốngGiải sai ý, sai ngữ cảnh câu kinh
Chế, chiếu, biểuSoạn thay một văn bản triều đìnhViết văn bản hành chính đúng thể thức, lối tứ lụcSai thể thức xưng hô, đối không chỉnh
Thơ, phúMột câu, một cảnh, một ý cho sẵnVốn chữ, niêm luật, điển cốSai luật bằng trắc, lạc vần
Văn sáchChuỗi câu hỏi về kinh sử và việc nướcKiến thức rộng, khả năng lập luận và bàn việcTrả lời thiếu câu, lạc đề, lời lẽ phạm cấm kỵ

Có một lỗi chung cho mọi thể văn: viết phải chữ kiêng húy của vua và hoàng tộc mà không viết theo cách kiêng đã quy định. Lỗi này nặng tới mức có thể bị đánh hỏng cả bài, và được bàn kỹ hơn trong bài về trường quy.

Sĩ tử luyện các thể văn ra sao

Không ai vào trường thi mà chưa tập viết đủ các thể văn trong nhiều năm. Theo các mô tả về việc học thời xưa, con đường luyện văn thường gồm những chặng sau, nhanh hay chậm tuỳ người và tuỳ thầy.

  • Học thuộc và nghe thầy giảng Tứ thư, Ngũ kinh cùng phần chú giải, vì mọi thể văn đều phải dựa trên nền này.
  • Tập đối, tập làm câu đối nhỏ để quen với lối viết hai vế cân nhau, chuẩn bị cho kinh nghĩa và văn tứ lục.
  • Tập làm thơ Đường luật theo đề của thầy, được thầy sửa từng chữ về luật bằng trắc, niêm và vần.
  • Đọc các bài văn của người đỗ khoa trước được chép lại hoặc in thành tập, để học cách phá đề, cách dàn ý, cách dùng điển.
  • Làm bài theo đề cũ trong các kỳ tập dượt ở trường làng hoặc trường của quan học, nộp cho thầy chấm và phê.
  • Tham gia những buổi bình văn, khi thầy và trò cùng đọc to một bài văn hay, chỉ ra chỗ đắc ý và chỗ còn vụng.
  • Học thuộc danh sách chữ kiêng húy hiện hành và các quy định của trường thi để tránh lỗi bị đánh hỏng.

Cách học này cho thấy vì sao việc đi thi gắn với nhiều năm dài và với vai trò rất lớn của người thầy. Nó cũng giải thích vì sao các tập văn mẫu được lưu truyền rộng: với nhiều sĩ tử, đó là cách duy nhất để biết một bài đỗ trông như thế nào.

Lối văn khoa cử bị phê phán thế nào

Từ cuối thế kỷ 19, nhiều nhà nho và trí thức bắt đầu phê phán lối văn khoa cử. Các bản điều trần xin cải cách giáo dục, rồi phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục đầu thế kỷ 20, đều chỉ ra rằng việc học để thi kinh nghĩa, thơ phú khiến người học thuộc lòng sách cũ, chuộng lời hoa mỹ, thiếu hiểu biết về khoa học và thế giới bên ngoài.

Những lời phê phán ấy có cơ sở trong bối cảnh đất nước đối diện với áp lực từ phương Tây, khi các thể văn trường thi không trả lời được những câu hỏi mới. Mặt khác, các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận rằng chính các thể văn ấy đã rèn cho nhiều thế hệ nho sĩ khả năng đọc sâu, viết chặt và lập luận có dẫn chứng, những năng lực vẫn có giá trị.

Đọc lại lịch sử văn thể khoa cử, bạn có thể thấy cả hai mặt: một hệ thống kiểm tra năng lực khá toàn diện theo chuẩn của thời nó, và một hệ thống dần cứng nhắc khi thời thế đổi thay. Để người đọc tự rút ra nhận định là cách tiếp cận công bằng với di sản này.

Câu hỏi thường gặp

Kinh nghĩa là gì?

Kinh nghĩa là thể văn giải thích ý nghĩa một câu hoặc một đoạn trong Tứ thư, Ngũ kinh theo cách hiểu chính thống của Nho học. Bài kinh nghĩa có bố cục chặt, mở đầu bằng phần phá đề, thừa đề rồi mới bàn sâu.

Chế, chiếu, biểu khác nhau thế nào?

Chiếu là văn bản vua ban xuống để công bố việc, chế là văn bản phong chức hay ban thưởng, biểu là văn bản quan lại dâng lên vua. Ở trường thi, sĩ tử viết thay theo đề, thường bằng lối văn tứ lục.

Văn sách là gì?

Văn sách là thể văn trả lời một chuỗi câu hỏi về kinh sử và việc trị nước. Người viết phải dẫn kinh sử làm chứng và đưa ra kiến giải của mình. Thi Đình chủ yếu là một bài văn sách.

Thi thơ thời xưa là thơ gì?

Phần thơ ở trường thi thường là thơ Đường luật với luật bằng trắc, niêm, đối, vần chặt chẽ. Bên cạnh thơ còn có phú, thể văn dài có vần. Mức độ coi trọng thơ phú thay đổi theo từng triều.

Vì sao sĩ tử xưa phải học thuộc nhiều?

Vì đề kinh nghĩa lấy từ bất kỳ câu nào trong Tứ thư, Ngũ kinh, sĩ tử phải biết câu ấy ở đâu và ngữ cảnh ra sao. Văn sách và thơ phú cũng đòi hỏi nhớ nhiều điển cố, sự kiện lịch sử để dẫn chứng.

Văn tứ lục là gì?

Tứ lục là lối văn biền ngẫu, các câu đi thành cặp đối nhau, nhiều câu theo nhịp bốn chữ và sáu chữ. Lối này thường dùng cho chế, chiếu, biểu và nhiều văn bản trang trọng khác thời xưa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183